TẬP HUẤN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI TP.HCM

Thứ hai - 12/10/2015 02:19
Theo từ điển: tên gọi chung các loại chất kích thích, dùng nhiều thành nghiện. Gốc Hán Việt: “ma” là tê mê, “túy” là say sưa. Chất đưa đến sự say sưa, mê mẩn. Nghiện hoàn toàn là do ma túy? Màu sắc tiêu cực. Chất gây nghiện khác: cà phê, keo, thuốc…
Tổng quan về nghiện chất
 
 ThS. BS. Nguyễn Song Chí Trung
 
Bộ môn Tâm thần
 
Đại học Y Dược TP.HCM

Nội dung
 
 
1. Vấn đề thuật ngữ.
 
2. RL sử dụng chất và RL do sử dụng chất
 
3. Khái niệm nghiện chất.
 
4. Nghiện chất là bệnh lý mạn tính của não bộ.
 
5. Các yếu tố nguy cơ của nghiện chất.
 
6. Lâm sàng của nghiện chất.
 
7. Vai trò của lệ thuộc cơ thể.
 
8. Phân loại các chất gây nghiện.

Thuật ngữ “ma túy”
 
 
 
 
•  Theo từ điển: tên gọi chung các loại chất kích thích, dùng nhiều thành nghiện.
 
•  Gốc Hán Việt: “ma” là tê mê, “túy” là say sưa.
 
Chất đưa đến sự say sưa, mê mẩn.
 
•  Vấn đề:
 
– Nghiện hoàn toàn là do ma túy? Màu sắc tiêu cực.
 
– Chất gây nghiện khác: cà phê, keo, thuốc…
 
•  Đề xuất: dùng từ “chất” thay cho “ma túy”.

Thuật ngữ “nghiện”
 
•  Nghiện (addiction)
•  Lệ thuộc (dependence) ?
– Lệ thuộc cơ thể (physical dependence)
– Lệ thuộc tâm lí (psychological dependence)
 
•  DSM  5:  Rối  loạn  sử  dụng  chất           (Substance    use disorder)
•  Đề xuất:
– Sử dụng thuật ngữ “nghiện”
– Lệ thuộc = lệ thuộc cơ thể (sinh lý)

RL sử dụng chất ≠ RL do sử dụng chất
 
•  RL tâm thần và hành vi do sử dụng chất:
 
Ngộ độc chất, hội chứng cai, loạn thần, RL lưỡng cực, RL trầm cảm, RL lo âu, RL ám ảnh cưỡng chế, RL giấc ngủ, RL tình dục, sảng, RL thần kinh nhận thức.
 
 Tương tự: “nghiện thuốc lá” và “ung thư phổi do hút thuốc lá”

Thảm họa ma túy đá
(Báo SGGP, 13/10/2014)
 
 
Kẻ giết người trực tiếp lẫn gián tiếp
 
Đến nay, người dân TPHCM vẫn chưa hết bàng hoàng khi nghe  nhắc  lại  vụ  việc  xảy  ra  ở  quận  1  vào          cuối   tháng  9- 2014, một người phụ nữ bị “anh chồng” và cũng là người tình sát hại, rồi phân xác đem phi tang ở nhiều nơi. ... Hành động giết người được Tuấn thực hiện khi đang sử dụng ma túy đá. Không  chỉ  giết   chết  người  sử  dụng,  sai                khiến       người
nghiện  cầm  dao  kéo  “mổ,  xẻ”,  giết  người,  ma             túy    đá    còn đẩy người sử dụng đi vào nhiều con đường phạm tội khác nhau.

Thảm họa ma túy đá (t.t)
 
 
 Ách tắc giải pháp
 
...Ông  Trần  Trung  Dũng,  Giám  đốc  Sở  LĐTB-XH TPHCM, cho biết ma túy đá đang diễn biến phức tạp là do hiện nay chưa có phác đồ điều trị cho người nghiện.
 
...Theo ông Trần Trung Dũng, việc cắt cơn, giải độc phải có phòng ốc với trang thiết bị đầy đủ và đội ngũ bác sĩ được tập huấn cộng với phương án bảo vệ chu đáo.
 
... Ma túy đá có khả năng gây nghiện nhanh, có khi mới sử dụng 1 lần đã nghiện.

Bệnh nhân có còn nghiện?
 
 
 Một  bệnh  nhân  đang  được  điều  trị  nghiện heroin bằng methadone. Khi được tư vấn viên hỏi là gần đây có còn sử dụng heroin hay không, bệnh nhân trả lời rằng chỉ trong những lần đi chơi, tụ tập cùng bạn bè (khoảng 3-4 lần/tháng), do không khí thân mật và bạn bè lôi kéo, bệnh nhân có sử dụng heroin trở lại.

 
  Nghiện chất là khi…
 
 
A.
 
 
Sử dụng chất (gây
 
 
nghiện)?
 
 
 
 
 
B.  Sử dụng chất thường xuyên?
 
 
 
 
C.  Không chịu được nếu không sử dụng chất?
 
 D.  Mất khả năng kiểm soát việc sử dụng chất?

Khái niệm nghiện chất
 
 
•  Nghiện chất: sự thôi  thúc buộc phải sử    dụng
chất, bất chấp nhiều hậu quả nghiêm trọng.
 
•  (Những) Lần sử dụng chất ban đầu là có chủ ý, nhưng khi đã nghiện thì hành vi sử dụng chất thoát khỏi sự kiểm soát của người nghiện, mang tính chất cưỡng chế.

Nghiện chất là bệnh lý của não
 
 Tính chất cưỡng chế xuất phát từ não
 
•  Não bộ của người nghiện “nghĩ” một cách sai lệch rằng hành vi sử dụng chất là thiết yếu cho cơ thể.
 
•  Thôi thúc sử dụng chất ở người nghiện mạnh hơn nhiều lần so với các hoạt động bản năng
tự nhiên (như ăn, uống, tình dục…).
 
Mức độ phóng thích dopamine ở não khi sử dụng chất gây nghiện cao hơn so với các hoạt động bản năng (ăn, uống, tình dục)

Bệnh lý sinh học, tâm lí và xã hội
 
Sinh học
 
 NGHIỆN   Tâm lí   Xã hội
 Nghiện chất là hậu quả của tương tác giữa chất gây  nghiện  và  não  bộ  của  người  nghiện, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định.

Nghiện chất không chỉ là vấn đề xã hội
 
 Sự gia tăng người nghiện rõ ràng liên quan đến sự có mặt của  chất  gây  nghiện và tình hình kinh tế xã hội. Nhưng đó chỉ là một phần của vấn đề.

Nghiện  chất  cũng  không  liên   quan đến ý chí, luân lý hay đạo đức
 
 Quá trình hình thành nghiện chất
 
Lý do bắt đầu sử dụng chất?
 
•  Áp lực từ bạn đồng lứa
 
•  Tò mò
 
•  Khoái cảm do rượu/ma túy mang lại
 
•  Chủ ý: giảm đau, giảm căng thẳng

Diễn tiến tự nhiên của nghiện
 
 •  Tuổi khởi phát bệnh lý nghiện chất: 18 - 25
 
•  Tuổi kết thúc bệnh lý nghiện chất: 26 – 43
 
•  Thời gian  nghiện  chất:  trung  bình là    27     năm
(rượu 29 năm, ma túy 25 năm)
 Nghiện chất là bệnh l{ mạn tính, nhưng có thể khỏi hoàn toàn.

Dịch tễ học
 
•  Thống kê tại Mỹ năm 2006:
 
– 4/5 dân số  uống  rượu, 2/3  hút           thuốc,  1/3 hút  cần  sa,  và  hơn  1/4  dùng  chất        ma  túykhác.
 
– 8% dân số nghiện rượu, 3% dân số          nghiện chất ma túy khác.
 
→  khoảng  1/10  số  người  sử  dụng  chất      được chẩn đoán là nghiện.

Yếu tố nào quan trọng nhất trong nghiện chất
 
 A.  Di truyền
 
B.  Tâm lí, nhân cách
 
C.  Gia đình
 
D.  Kinh tế xã hội

Yếu tố sinh học
 
•  Di truyền:
 
– Quyết định 40-60% khả năng bị nghiện chất.
 
– Hiện tại, chỉ một vài gen được phát hiện: gen mã hóa ADH1B và ALDH2 (các enzyme chuyển hóa rượu),  gen  mã  hóa  P-450  2A6  (enzyme  chuyển hóa  nicotine),  gen  mã  hóa  P-450  2D6  (enzyme giúp chuyển codein thành morphine)…

Yếu tố tâm lí cá nhân
 
•  Tính khí khó chịu giai đoạn chu sinh (đến 1 tuổi): khó ngủ, hay khóc, khó dỗ dành, đòi hỏi, cứng nhắc.
 
•  Liên  hệ  với  các  rối  loạn  hành  vi  thời  niên thiếu, rối loạn ăn uống và béo phì.
Yếu tố gia đình, xã hội
 •  Gia đình:
– Ba/mẹ cũng có vấn đề sử dụng chất?
– Sự quan tâm, theo dõi của cha mẹ đối với hành vi con cái.
Quan hệ 2 chiều: cha mẹ hỏi thông tin và trẻ sẵn sàng trả
lời đầy đủ cho cha mẹ.
•  Môi trường:
– Trình độ kinh tế xã hội thấp
– Nguồn ma túy/rượu
 
Ví dụ minh họa vai trò môi trường: nghiện heroin ở quân nhân Mỹ tham gia chiến trường Việt Nam so với nghiện heroin của người Mỹ trong nước.
Lâm sàng
 
•  Lệ thuộc cơ thể
 
•  Hiện tượng dung nạp
 
•  Lệ thuộc tâm lí
 
 Tiêu chuẩn chẩn đoán: ICD-10
 
DSM IV TR, DSM 5.

Lệ thuộc cơ thể (sinh lý)
 
 •  Đồng nghĩa với Hội chứng cai
 
Các  triệu chứng  (cơ  thể,  tâm  lý,  hành        vi)     xuất hiện    khi   nồng     độ   của        chất  thường xuyên  sử
dụng  giảm  trong  cơ  thể;  cần  sử  dụng          chất   để giải tỏa các triệu chứng này.
 
•  Ý nghĩa: sự có mặt của chất trong cơ thể là cần thiết để duy trì các hoạt động sinh lý bình thường.

Hiện tượng dung nạp
 
 •  Hiệu quả giảm khi sử dụng lặp đi lặp lại cùng một lượng chất thường xuyên.
 
•  Cần  liều  cao  hơn  để  đạt  hiệu  quả    tương đương.

Lệ thuộc tâm lí
 •  Thôi thúc, thèm muốn sử dụng chất dù không có các triệu chứng cơ thể (hội chứng cai).
 
•  Bao gồm:
 
– Mất khả năng kiểm soát việc sử dụng chất.
 
– Ảnh hưởng chức năng xã hội do sử dụng chất.
 
– Sử dụng nguy hại.

Mất khả năng kiểm soát
 
 •  Sử dụng chất với lượng nhiều hơn hoặc thời gian dài
hơn dự định ban đầu.
 
•  Mong muốn giảm bớt hoặc kiểm soát việc dùng chất, từng nhiều lần thất bại trong việc giảm hoặc ngưng dùng chất.
 
•  Bỏ ra nhiều thời gian cho việc tìm kiếm, sử dụng và hồi phục từ tác dụng của chất.
 
•  Cảm giác thèm nhớ: có thể xảy ra bất kì lúc nào, nhưng thường nhất khi đi qua những nơi từng sử dụng chất. Cảm giác thèm nhớ có thể chiếm hết tâm trí, khiến b/n không thể suy nghĩ về việc gì khác.

Ảnh hưởng chức năng xã hội
 
 •  Không thể hoàn thành tốt vai trò trong công việc, trường học, gia đình do sử dụng chất thường xuyên.
 
•  Vẫn  tiếp  tục  dùng  chất  dù gặp  nhiều    vấn  đề
trong công việc và quan hệ xã hội.
 
•  Giảm bớt các hoạt động xã hội, giải trí khác do
sử dụng chất.

Sử dụng nguy hại
 
•  Sử  dụng chất trong những hoàn cảnh nguy hiểm cho cơ thể (tai nạn giao thông, bệnh lý cơ thể, bệnh truyền nhiễm…).
 
•  Vẫn tiếp tục sử dụng chất cho dù nhận thức được những mỗi nguy hiểm này.

Biểu hiện nào là cần thiết để chẩn
đoán nghiện?
 
 A.  Lệ thuộc cơ thể (hội chứng cai)
 
 
 
B.  Hiện tượng dung nạp
 
 
 
C.  Lệ thuộc tâm lí
 
 
 
D.  Tất cả các biểu hiện trên

TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN CHẤT THEO ICD – 10
 
 
 
Ít nhất 3/6 triệu chứng sau đây trở lên:  
1. Thèm muốn mãnh liệt dùng chất.
2. Mất khả năng kiểm soát việc dùng chất.
3. Ngừng  hoặc  giảm  liều  sử  dụng              sẽ       xuất hiện hội
  chứng cai.    
4. Liều chất sử dụng ngày càng tăng.
5. Luôn tìm kz được chất, sao nhãng nhiệm vụ và sở thích.
6. Biết tác hại nặng nề vẫn tiếp tục sử dụng chất.
 
 33

Lệ thuộc cơ thể trong nghiện chất
 
Lệ thuộc cơ thể không phải là điều kiện cần, cũng không phải là điều kiện đủ để chẩn đoán nghiện chất.
 
• Nghiện chất không có lệ thuộc cơ thể.
 
• Lệ thuộc cơ thể không kèm nghiện chất.
 
•  Lệ thuộc cơ thể diễn tiến cấp tính, nghiện chất diễn tiến mạn tính.

Nghiện chất không có LT cơ thể
 
•  Các  chất gây ảo giác và phencyclidine không gây
bất kì triệu chứng cai nào sau nhiều lần sử dụng.
 
•  Triệu chứng cai có thể xuất hiện nhưng không rõ ràng, ở nghiện amphetamines, cần sa, cocaine, nicotine.
 
•  Sau một thời gian ngưng sử dụng ma túy, LT cơ thể không còn nữa, nhưng các triệu chứng khác của  nghiện  vẫn  còn  (cảm  giác  thèm  nhớ),  gây nguy cơ tái nghiện.

LT cơ thể không kèm nghiện chất
 
•  LT cơ thể có thể xảy ra với những loại thuốc được  chỉ  định  trong  điều  trị  y  khoa:  thuốc giảm đau  morphin, corticoid, thuốc điều  trị mất ngủ, thuốc chống trầm cảm; và caffeine.
•  Hội  chứng  cai  ở  trẻ  sơ  sinh  (mẹ  dùng    rượu,
heroin thường xuyên trong thai kì).
•  Nếu chỉ có triệu chứng cai mà không kèm bất
kì hành vi sử dụng thuốc quá mức nào khác
thì chỉ là lệ thuộc cơ thể, không phải nghiện.

Lệ thuộc cơ thể diễn tiến cấp tính
Diễn tiến tùy thuộc theo cơ địa, chất sử dụng, triệu chứng. Tuy nhiên, ngay cả khi không có điều trị đặc hiệu, H/C cai sẽ tự cải thiện và hồi phục trong vòng
1 tháng.

Ý nghĩa đối với điều trị nghiện chất
•  Cắt cơn, giải độc chỉ giải quyết lệ thuộc cơ thể,
không giải quyết được bệnh lý nghiện chất.
 
•  Cốt lõi của điều trị nghiện chất:
 
– Giải quyết lệ thuộc tâm lí.
 
– Điều trị lâu dài
 
– Kết hợp nhiều yếu tố: sinh học (thuốc), tâm lí, gia
đình, xã hội.

Phân loại các chất gây nghiện theo
hiệu quả hướng thần
 
•  Các chất gây  yên  dịu: rượu, thuốc  giải    lo    âu,
CDTP.
•  Các chất kích thần: ATS, cocain.
•  Các chất kích thần gây ảo giác: ecstasy.
•  Các chất gây ảo giác: LSD, cần sa.
 
•  Các  chất  yên  dịu  gây  ảo  giác:  các        dung môi hữu cơ.

Phân loại theo lâm sàng nghiện chất
 
 •  Gây  lệ  thuộc  tâm  lí  và  lệ  thuộc  cơ  thể  rõ    ràng:
heroin, rượu.
 
•  Gây  lệ  thuộc  tâm  lí  chủ  yếu,  lệ  thuộc  cơ  thể không rõ ràng: ATS (ma túy đá, thuốc lắc), cần sa, cocain.
 
•  Chỉ gây lệ thuộc cơ thể, không/hiếm gây lệ thuộc tâm lí: methadone, buprenorphine, caffeine.
 
•  Chỉ gây lệ thuộc tâm lí, không gây lệ thuộc cơ thể: LSD (chất gây ảo giác), phencyclidine.

Phát biểu nào là đúng về điều trị duy trì methadone cho nghiện CDTP
 
 
A.  Thay thế nghiện heroin bằng nghiện methadone.
 
 
B.  Thay thế lệ thuộc heroin bằng lệ thuộc methadone. C.     Thay thế nghiện heroin bằng lệ thuộc methadone. D. Thay thế lệ thuộc heroin bằng nghiện methadone.

Các thuốc được sử dụng trong điều trị
nghiện CDTP (trên thế giới)
 
•  Methadone
 
•  Buprenorphine
 
•  Levo-alpha-acetylmethadol (LAAM)
 
•  Naltrexone, Naloxone
 
•  Diacetylmorphine (heroin)

KẾT LUẬN
 
 •  Nghiện chất là bệnh lý của não bộ, đa yếu tố
phát sinh (sinh học, tâm lí, xã hội).
 
•  Nghiện chất là bệnh mạn tính, dễ tái phát.
 
•  Đặc điểm lâm sàng cốt yếu là hành vi sử dụng mất kiểm soát (lệ thuộc tâm lí).
 
•  Điều trị nghiện chất phải là điều trị mạn tính, phối   hợp  nhiều  yếu  tố  (thuốc,  tâm  lí,  môi trường).

Tình huống lâm sàng
 
Bệnh nhân Quang đã dùng thuốc ngủ Lexomil từ 3  năm  nay.  Tối nào  Quang  cũng  phải  có    thuốc mới  ngủ  được,  nếu  không  có  thuốc  thì         trong người bứt rứt, khó chịu, chóng mặt. Lúc đầu chỉ
cần nửa viên (3mg) là đã có thể ngủ, nhưng từ một  năm  nay,  Quang  phải  dùng  1  viên         (6mg) mới có thể ngủ yên.

Tình huống lâm sàng
 
Cường bắt đầu thử dùng heroin từ năm 15 tuổi, do tò mò với bạn bè. Lúc đầu Cường chỉ sử dụng dạng hút, mỗi ngày từ 2-3 lần. Một năm sau thì chuyển sang dạng tiêm, mỗi ngày trung bình dùng 4 lần. Khi nào thiếu thuốc Cường lại thấy khó chịu, thèm nhớ, hoa mắt, đổ mồ hồ, cảm giác sâu bọ bò trên da thịt. Đã có lần Cường dùng kim tiêm chung với bạn. Cường đã được gia đình đưa đi cai nghiện 3 lần ở trung tâm, mỗi đợt kéo dài 2-3 tháng, nhưng về nhà được 3-4 tuần là lại tái nghiện.


Chi tiết xin vui lòng tải tệp đính kèm tại đây!