ARV – Thuốc kháng Virus HIV

ARV Thuốc kháng Virus HIV

I/. Điều trị bằng ARV thuốc kháng virus HIV  

Nhờ sự phát triển nhanh chóng của y học, từ năm 1984 thuốc zidovudine (AZT) lần đầu tiên được Cơ quan Thuốc và Thực phẩm Hoa kỳ (FDA) chấp nhận sử dụng để điều trị cho người nhiễm HIV. Từ năm 1996, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng phác đồ điều trị kết hợp ba loại thuốc “Liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao” có tác dụng vào các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ nhân lên của virus. Ở Việt Nam, năm 2005, việc mở rộng các chương trình điều trị thuốc ARV được triển khai trong cả nước. Cùng với việc tăng cường giáo dục tuân thủ, điều trị ARV thuốc kháng virus hiv đã thực sự cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người có HIV bởi nó kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ tử vong, giảm sự lây truyền của HIV do giảm tải lượng virus trong máu về “dưới ngưỡng phát hiện”, đưa HIV/AIDS từ một căn bệnh chết người trở thành một bệnh mạn tính. Tính đến tháng 30/6/2016, cả nước có hơn 100.000 người đang được điều trị ARV trong tổng số 407 cơ sở điều trị ARV

I.1/. Mục đích điều trị ARV (Thuốc kháng Virus HIV)

Điều trị thuốc ARV là việc sử dụng các thuốc kháng HIV với mục đích :

  • Ức chế tối đa và lâu dài sự nhân lên của virus tới mức dưới ngưỡng phát hiện, từ đó làm giảm số lượng bản sao của HIV nhân lên trong tế bào T-CD4 dẫn đến giảm tải lượng virus trong máu.
  • Phục hồi chức năng miễn dịch: giảm tải lượng virus sẽ tạo cơ hội cho hệ thống miễn dịch được phục hồi, số lượng T-CD4 tăng lên.
  • Giảm các bệnh nhiễm trùng cơ hội và tử vong liên quan đến HIV, do đó làm kéo dài tuổi thọ người bệnh.
  • Giảm sự lây truyền HIV qua tất cả các đường lây, bao gồm lây truyền từ mẹ sang con, lây qua đường tình dục, qua tiêm chích ma túy.
  • Cải thiện chất lượng cuộc sống: cải thiện khả năng sinh hoạt hàng ngày, giúp người bệnh tái hòa nhập với cộng đồng, lao động để có thu nhập, tự lập và tự tin trong cuộc sống từ đó giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS.

I.2/. Lợi ích của điều trị ARV sớm    

Các lợi ích bao gồm:

  • Giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan tới HIV.
  • Giảm mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội: Người nhiễm HIV có một nguy cơ phát triển AIDS hoặc các bệnh nghiêm trọng khác thấp hơn đáng kể nếu bắt đầu dùng các thuốc kháng virus sớm.
  • Dự phòng lây truyền HIV từ người nhiễm sang người khác (bạn tình/ bạn chích).
  • Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
  • Là biện pháp chi phí hiệu quả.

I.3/. Nguyên tắc điều trị ARV

  • Phối hợp thuốc: Dùng phối hợp ít nhất 3 loại thuốc ARV.
  • Điều trị sớm: Điều trị ngay khi người bệnh đủ tiêu chuẩn nhằm ngăn chặn khả năng nhân lên của HIV, giảm số lượng HIV trong máu và giảm phá hủy tế bào miễn dịch.
  • Điều trị liên tục, suốt đời: Người bệnh cần được điều trị ARV suốt đời và theo dõi trong suốt quá trình điều trị.
  • Đảm bảo tuân thủ điều trị ARV: Người bệnh cần thực hiện uống thuốc đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định , xét nghiệm test nhanh định kỳ.

I.4/. Điều trị ARV  

Bảng 1 : Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Đối tượngChỉ định điều trị ARV
Người lớn và trẻ ≥ 5 tuổi T-CD4 ≤ 500 tế bào/mm3
Điều trị không phụ thuộc số lượng tế bào T-CD4 trong trường hợp:

–     Giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 bao gồm cả mắc lao.

–     Có biểu hiện của viêm gan B mạn tính nặng.

–     Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú nhiễm HIV.

–     Người nhiễm HIV có vợ/chồng không bị nhiễm HIV.

–     Người nhiễm HIV thuộc quần thể nguy cơ: Người tiêm chích ma túy, phụ nữ bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới.

–     Người nhiễm HIV ≥ 50 tuổi.

–     Người nhiễm HIV sinh sống, làm việc tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

Bảng 2 : Các phác đồ điều trị ARV Người lớn và trẻ ≥ 10 tuổi 

Phát đồ bậc 1Phát đồ bậc 2
TDF + 3TC + EFVAZT + 3TC+LPV/r hoặc ATV/r
AZT + 3TC + EFVTDF + 3TC

Bảng 3 : Xét nghiệm theo dõi trước và sau khi điều trị ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Thời điểm điều trị HIVCác xét nghiệm
Thời điểm đăng ký điều trị

 

Người lớn:

–         Xét nghiệm T-CD4

–         Công thức máu và hemoglobin

–         Creatinin

–         AST/ALT

–         Test nhanh viêm gan B HBsAg

–         Test nhanh Anti- HCV

I.5/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV 

Điều trị thuốc kháng retrovirus (ARV) là điều trị suốt đời, do vậy việc tuân thủ nghiêm ngặt với thuốc là hết sức quan trọng để tránh hiện tượng kháng thuốc và thất bại điều trị. Giáo dục, tư vấn tuân thủ là việc cần được nhân viên y tế làm thường xuyên mỗi lần người bệnh đến khám và lĩnh thuốc. Người bệnh cũng cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc tuân thủ, để thực hiện một cách tự giác, chủ động đảm bảo tuân thủ luôn đạt > 95% .

I.5.1/. Định nghĩa  

Tuân thủ điều trị ARV là uống thuốc đầy đủ theo đúng chỉ định của bác sĩ, được đánh giá qua các yếu tố sau :

  • Đúng liều: Uống thuốc đầy đủ số lần được chỉ định theo chỉ dẫn của của bác sĩ, nếu uống thiếu liều sẽ dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, ngược lại uống quá liều có thể gây ngộ độc thuốc. Cần uống đúng số thuốc mỗi lần và đủ số lần trong ngày.
  • Đúng giờ: Hầu hết các thuốc ARV đều được uống vào một giờ nhất định trong ngày và cách đều giữa các liều (12 giờ) để đảm bảo duy trì nồng độ thuốc ức chế virus trong cơ thể.
  • Đúng cách: Các loại thuốc của phác đồ ARV bậc 1 nhìn chung đều có thể uống bất cứ lúc nào. Tuy nhiên thuốc EFV tránh dùng sau bữa ăn có nhiều mỡ và tránh dùng cho phụ nữ có thai, tránh dùng NVP khi đang điều trị lao bằng rifampicin.
  • Đúng đường: Thông thường các loại thuốc ARV đều được sử dụng bằng đường uống. Vì vậy phải luôn đảm bảo đã uống đủ thuốc hàng ngày.

I.5.2/. Mục đích

Tuân thủ là cách để đảm bảo an toàn trong điều trị, tránh hiện tượng kháng thuốc do uống không đủ 3 loại thuốc, thiếu liều, sai giờ, sai cách. Nếu không tuân thủ sẽ dẫn đến thất bại điều trị. Tuân thủ điều trị ARV là yếu tố cực kỳ quan trọng để bảo đảm sự thành công của điều trị, tránh sự xuất hiện kháng thuốc.

Virus HIV có tỷ lệ nhân lên và đột biến rất cao. Nếu không tuân thủ sẽ dẫn đến việc nồng độ thuốc trong máu thấp, các đột biến của HIV sẽ xuất hiện sự kháng thuốc. Cả thuốc ức chế enzym protease (PI) lẫn thuốc ức chế enzym sao mã ngược không phải nucleoside đều có hiện tượng kháng thuốc rộng theo nhóm: Nghĩa là khi có hiện tượng kháng một loại thuốc trong nhóm xảy ra thì thông thường sẽ dẫn đến việc kháng thuốc tất cả thuốc của nhóm đó. Vì thế, việc không tuân thủ một phác đồ điều trị có thể dẫn đến hiện tượng virus kháng lại với nhiều loại thuốc chống virus.

Đối với điều trị ARV (thuốc kháng Virus HIV), cần thiết phải duy trì tuân thủ điều trị để ức chế sự nhân lên của virus và cải thiện kết quả miễn dịch học và lâm sàng, đồng thời giảm nguy cơ xuất hiện kháng thuốc ARV, giảm nguy cơ lây truyền HIV [64]. Tuân thủ là điều cốt lõi cho sự thành công của điều trị thuốc ARV đem lại hiệu quả cho điều trị và điều trị dự phòng các nhiễm trùng cơ hội.

I.5.3/. Theo dõi và hỗ trợ tuân thủ điều trị  

– Việc tái khám , xét nghiệm test nhanh định kỳ theo quy định sẽ giúp công tác theo dõi quá trình điều trị của bệnh nhân được tốt hơn, đặc biệt là đảm bảo có thuốc uống đầy đủ và giúp cho bác sĩ phát hiện sớm các nhiễm trùng cơ hội, các tác dụng không muốn của thuốc cũng như biểu hiện không đáp ứng điều trị để kịp thời thay đổi phác đồ phù hợp. Tạo điều kiện cho cán bộ y tế theo dõi, hỗ trợ cho bệnh nhân thực hành tốt quá trình điều trị bệnh. Việc tái khám định kỳ không đúng quy định được xem là sự không tuân thủ điều trị thuốc ARV. Do đó tái khám đúng hẹn là một trong những tiêu chí đánh giá bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc ARV. Theo dõi việc đến khám và lĩnh thuốc theo lịch của người bệnh. Liên hệ với người bệnh để nhắc nhở họ đến khám và lấy thuốc đúng hẹn qua điện thoại hoặc mạng lưới đồng đẳng viên/người hỗ trợ điều trị.

           Đánh giá sự tuân thủ điều trị mỗi lần đến khám để có sự hỗ trợ kịp thời: Hỏi về việc quên không uống thuốc, số lần quên uống, thời gian uống.

           Theo dõi diễn biến lâm sàng, kết quả xét nghiệm T-CD4 và tải lượng HIV để đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

           Bệnh nhân phải uống thuốc đúng liều lượng chỉ định: Số lần quên thuốc trong 1 tháng nếu từ 3 lần/tháng trở xuống là tuân thủ điều trị tốt. Nếu quên thuốc > 3 lần/1 tháng, điều trị có thể thất bại. Đối với các thuốc uống 2 lần/ngày khoảng cách  giữa các lần uống thuốc phải cách nhau 12 giờ để đảm bảo tác dụng và an toàn tránh việc nồng độ đỉnh của thuốc quá thấp không đạt ngưỡng điều trị sẽ gây kháng thuốc cũng như quá cao sẽ nguy hiểm cho bệnh nhân. Thuốc ARV phải được uống đúng giờ, uống sớm hoặc muộn thuốc nghĩa là uống cách giờ quy định quá 60 phút .

 

I.6/. Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị thuốc ARV (Thuốc kháng Virus HIV)

 I.6.1/. Những lý do phổ biến dẫn đến không tuân thủ thuốc điều trị ARV  

  • Không cho rằng điều trị ARV là điều trị suốt đời, không hiệu quả.
  • Quên không uống thuốc hàng ngày và vào giờ nhất định.
  • Tác dụng phụ và độc tính của thuốc.
  • Thuốc gây trở ngại cho cuộc sống hàng ngày.
  • Sợ lộ bí mật.
  • Sợ phải uống rất nhiều loại thuốc.
  • Cần phải thực hiện chế độ ăn đặc biệt.
  • Uống rượu hoặc sử dụng ma túy dễ dẫn đến quên uống thuốc.
  • Buồn rầu do chưa đạt được mong muốn trong điều trị (không điều trị khỏi hẳn được tình trạng HIV).

I.6.2/. Các rào cản trong tuân thủ điều trị  

* Chủ quan :

  • Kiến thức và hiểu biết :

+ Nhận thức không đầy đủ về nhiễm HIV.

+ Không hiểu biết đầy đủ về phác đồ điều trị.

  • Thái độ: Sợ kỳ thị, không thích uống thuốc tân dược.

* Khách quan :

  • Thu nhập thấp/không có thu nhập.
  • Nhà ở xa hoặc không có chỗ ở cố định.
  • Việc làm: Không có/không ổn định.
  • Lối sống: Nghiện rượu/tiêm chích.
  • Thực hiện việc uống thuốc khó khăn do các yêu cầu:

+ Uống nhiều thuốc.

+ Uống nhiều lần trong ngày.

+ Uống đúng giờ.

+ Tác dụng phụ của thuốc.

II./ Tình hình bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ điều trị thuốc ARV   

II.1/. Tỷ lệ chung bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ điều trị thuốc ARV   

tỷ lệ chung bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV
Biểu đồ 1 : Tỷ lệ chung bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

 

Nhận xét: Biểu đồ  cho thấy tỷ lệ chung bệnh nhân nghiên cứu tuân thủ điều trị thuốc ARV chiếm 72,5% (153/211) và không tuân thủ điều trị thuốc ARV là 27,5% (58/211).

II.2/. Bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ lịch tái khám   

Biểu đồ 2 : Tỷ lệ chung bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ lịch tái khám  

Nhận xét:

Biểu đồ  cho thấy tỷ lệ chung bệnh nhân tuân thủ lịch qua 3 lần tái khám chiếm 79,6% (168/211) và không tuân thủ tái khám là 20,4% (43/211).

Việc tái khám & xét nghiệm test nhanh HIV định kỳ theo quy định sẽ giúp công tác theo dõi quá trình điều trị của bệnh nhân được tốt hơn, đặc biệt là đảm bảo có thuốc uống đầy đủ và giúp cho bác sĩ phát hiện sớm các nhiễm trùng cơ hội, các tác dụng không muốn của thuốc cũng như biểu hiện không đáp ứng điều trị để kịp thời thay đổi phác đồ phù hợp. Tạo điều kiện cho cán bộ y tế theo dõi, hỗ trợ cho bệnh nhân thực hành tốt quá trình điều trị bệnh. Việc tái khám định kỳ không đúng quy định được xem là sự không tuân thủ điều trị thuốc ARV. Qua nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tuân thủ lịch tái khám cao là một điều đáng mừng, chứng tỏ việc tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân cao. Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ lịch tái khám qua ba lần đánh giá lại có xu hướng giảm dần lần lượt là 98,6%; 92,4% và 88,6%. Do đó, các nhân viên y tế cần phải chú ý tư vấn việc tuân thủ lịch tái khám đối với các bệnh nhân có thời gian điều trị lâu.

Bảng : Tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ lịch tái khám của mỗi lần tái khám

Tái khám đúng lịch hẹnLần 1

Tần số (%)

Lần 2

Tần số (%)

Lần 3

Tần số (%)

Đúng208 (98,6%)195 (92,4%)187 (88,6%)
Không đúng03 (1,4%)16 (7,6%)24 (11,4%)
Tổng cộng211 (100,0)211 (100,0)211 (100,0)

Nhận xét:

Kết quả Bảng : cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ đúng lịch tái khám của mỗi lần tái khám được ghi nhận Lần 1 là 98,6% (208/211); Lần 2 là 92,4% (195/211) và Lần 3 là 88,6% (187/211).

II.3./ Bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV 

II.3.1/. Bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV đầy đủ   

Biểu đồ 3. Tỷ lệ chung bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV) đầy đủ

Nhận xét:

Biểu đồ 3 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV đầy đủ qua 3 lần theo dõi là chiếm 85,3% (180/211) và không tuân thủ chiếm 14,7% (31/211).

Kết quả cho thấy tỷ lệ chung bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV cao (85,3%). Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tỷ lệ này giảm dần qua 3 lần tái khám với tỷ lệ lần lượt là 95,7%, 95,3% và 94,3%. Vì vậy, các nhân viên y tế cần phải chú ý tư vấn việc tuân thủ uống thuốc ARV đầy đủ đối với các bệnh nhân có thời gian điều trị lâu.

 

Bảng 4 : Tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV đầy đủ của mỗi lần tái khám

Uống thuốc ARVLần 1

Tần số (%)

Lần 2

Tần số (%)

Lần 3

Tần số (%)

Có uống202 (95,7%)201 (95,3%)199 (94,3%)
Không uống 09 (4,3%)10 (4,7%)12 (5,7%)
Tổng cộng211 (100,0)211 (100,0)211 (100,0)

Nhận xét: 

Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV đầy đủ của mỗi lần tái khám được ghi nhận Lần 1: 95,7% (202/211); Lần 2: 95,3% (201/211) và Lần 3: 94,3% (199/211). (Bảng 3.10).

II.3.2/ Bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV (Thuốc kháng Virus HIV) đúng giờ 

Biểu đồ 4 : Tỷ lệ chung bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV đúng giờ

 

Nhận xét:

Biểu đồ 4 cho thấy tỷ lệ chung bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV đúng giờ qua 3 lần theo dõi chiếm 84,4% (178/211) và không tuân thủ chiếm 33,6% (33/211).

Nghiên cứu của chúng tôi khác biệt hơn so với các nghiên cứu khác vì chúng tôi đánh giá qua 3 lần tái khám còn các nghiên cứu trước đây chỉ thực hiện phỏng vấn bệnh nhân uống thuốc ARV đúng giờ trong 1 tháng. Do đó tỷ lệ bệnh nhân uống thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV) không đúng giờ trong nghiên cứu thấp hơn so với các nghiên cứu trước. Tuy nhiên, tỷ lệ này ở lần đánh giá 1 và 2 bằng nhau là 95,3%; nhưng đến lần đánh giá thứ 3 tỷ lệ này giảm xuống còn 93,8%. Vì vậy, các nhân viên y tế cần phải chú ý tư vấn việc tuân thủ uống thuốc ARV đúng giờ đối với các bệnh nhân có thời gian điều trị lâu.

 

Bảng 5 : Tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV đúng giờ của mỗi lần tái khám

Uống thuốc đúng giờLần 1

Tần số (%)

Lần 2

Tần số (%)

Lần 3

Tần số (%)

Đúng201 (95,3%)201 (95,3%)198 (93,8%)
Không đúng 10 (4,7%) 10 (4,7%)13 (6,2%)
Tổng cộng211 (100,0)211 (100,0)211 (100,0)

Nhận xét:

Kết quả Bảng 5 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV đúng giờ của mỗi lần tái khám được ghi nhận Lần 1: 95,3% (201/211), Lần 2: 95,3% (201/211) và Lần 3: 93,8% (198/211).

 

II.3.3/. Bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV (Thuốc kháng Virus HIV) đúng cách

Biểu đồ 5 : Tỷ lệ chung bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV đúng cách

Nhận xét:

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chung bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV) đúng cách qua 3 lần theo dõi chiếm 88% (186/211)và không tuân thủ là 12% (25/211) 

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chung bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV đúng cách cao (88,0%). Tuy nhiên, tỷ lệ này ở lần đánh giá 1 và 2 bằng nhau là 95,7%; nhưng đến lần đánh giá thứ 3 tỷ lệ này tăng lên 96,6%. Có thể khi bệnh nhân điều trị thời gian càng lâu thì bệnh nhân càng hiểu về thuốc hơn và uống đúng cách hơn. Việc uống thuốc ARV không đúng cách dễ dẫn đến sự nguy hiểm cho bệnh nhân. Do đó, nhân viên y tế cần phải tư vấn cho bệnh nhân việc uống thuốc ARV đúng cách trong suốt quá trình điều trị.

 

Bảng 6 : Tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ uống thuốc ARV đúng cách của mỗi lần tái khám

Uống thuốc đúng cách          Lần 1

Tần số (%)

Lần 2

Tần số (%)

Lần 3

Tần số (%)

Đúng202 (95,7%)202 (95,7%)204 (96,6%)
Không đúng 09 (4,3%) 09 (4,3%)07 (3,4%)
Tổng cộng211 (100,0)211 (100,0)211 (100,0)

Nhận xét:

Kết quả Bảng 6 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ uống thuốc ARV đúng giờ của mỗi lần tái khám được ghi nhận Lần 1 là 95,7% (202/211), Lần 2 là 95,7% (202/211) và Lần 3 là 96,6% (198/211).

II.4/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV theo đặc điểm của bệnh nhân HIV/AIDS

II.4.1/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV theo giới tính của bệnh nhân HIV/AIDS

Bảng 7 : Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo giới tính của bệnh nhân HIV/AIDS

Giới tínhTần số Tỷ lệ
Nam (n=144)10673,6
Nữ (n=67)4770,1

Nhận xét:

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân giới nam tuân thủ điều trị thuốc ARV là 73,6% (106/144); giới nữ tuân thủ là 70,1% (47/67) (Bảng 3.13).

Thường thấy, nam giới tuân thủ điều trị kém hơn nữ vì nam là trụ cột trong gia đình, thường xuyên phải đi làm việc kiếm thu nhập cho gia đình nên hay dễ quên uống thuốc, không tái khám đúng hẹn; nữ giới thường bị vô tình lây nhiễm, đặc biệt là những trường hợp có con nhỏ, họ muốn có đủ sức khỏe để chăm sóc, nuôi dạy cho con mình thật tốt. Nhưng hiện nay nam và nữ trong gia đình cùng đi làm kiếm tiền nuôi gia đình cũng khá phổ biến nên nữ cũng có thể gặp những khó khăn trong tuân thủ điều trị như nam, dẫn đến kết quả như nghiên cứu của chúng tôi.

II.4.2/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV theo tuổi của bệnh nhân HIV/AIDS

Bảng 8 : Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo tuổi của bệnh nhân HIV/AIDS

Nhóm tuổiTần số Tỷ lệ
16-29 tuổi (n=73)5778,0
30-39 tuổi (n=98)6566,3
≥ 40 tuổi (n=40)3177,5

Nhận xét:

Bệnh nhân nghiên cứu ở nhóm tuổi 16-29 tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV) là 78,0% (57/73); nhóm tuổi ≥ 40 tuân thủ điều trị thuốc ARV là 77,5% (31/40) và nhóm tuổi 30-39 tuân thủ điều trị thuốc ARV 66,3% (65/98) (Bảng 3.14)

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự không tuân thủ đều trị thuốc ARV giữa các nhóm đối tượng có độ tuổi khác nhau. Nghiên cứu của chúng tôi tuổi 30-39 tuân thủ điều trị thuốc ARV thấp nhất, có thể do ảnh hưởng của công việc hoặc phải đi làm ăn xa (trong nghiên cứu bệnh nhân có nhóm nghề ngư phủ, làm thuê cao nhất, chiếm 30,3%) dẫn đến tái khám không đúng hẹn.

II.4.3/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV theo dân tộc của bệnh nhân HIV/AIDS

Bảng 9 : Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo dân tộc của bệnh nhân HIV/AIDS

Dân tộcTần số Tỷ lệ
Kinh (n=189)13873,0
Khmer (n=17)1270,6
Hoa và khác (n=05)0360,0

Nhận xét:

Kết quả cho thấy bệnh nhân nghiên cứu dân tộc Kinh tuân thủ điều trị thuốc ARV là 73,0% (138/189); dân tộc Khmer là 70,6% (12/17)và dân tộc Hoa và khác là 60,0% (03/05) 

Nhìn chung, người Kinh luôn có tỷ lệ tuân thủ cao hơn những dân tộc khác, từ đó công tác truyền thông thông giáo dục sức khỏe cần chú ý hơn trong cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là thời gian điều trị thuốc ARV lâu dài, suốt đời. Cán bộ y tế cần tăng cường công tác giáo dục, tư vấn cho bệnh nhân dân tộc để giúp họ tuân thủ điều trị tốt hơn.

II.4.4/. Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo trình độ học vấn của bệnh nhân

Bảng 10 : Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo trình độ học vấn của bệnh nhân

Trình độ học vấnTần số Tỷ lệ
≤ Tiểu học (n=51)3976,5
THCS, THPT (n=128)8465,6
Cao đẳng, đại học (n=32)3093,8

Nhận xét:

Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân có trình độ cao đẳng, đại học là 93,8% (30/32); kế tiếp là bệnh nhân có trình độ ≤ tiểu học là 76,5% (39/51); bệnh nhân có trình độ trung học cơ sở và trung học phổ thông tuân thủ điều trị thuốc ARV là 65,6% (84/128) 

Trình độ học vấn ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức về HIV/AIDS, kiến thức về chăm sóc y tế, đặc biệt là việc tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân. Những người có trình độ học vấn cao thì sẽ dễ tiếp thu nội dung các buổi tư vấn, tập huấn của cán bộ y tế. Mặc khác, họ chủ động tìm hiểu thông tin, nâng cao kiến thức qua internet, báo, đài,… Các cán bộ làm công tác chăm sóc điều trị HIV/AIDS ở các phòng khám ngoại trú cần lưu ý đến những bệnh nhân có trình độ học vấn thấp để có các biện pháp nhắc nhở thường xuyên, giúp họ thực hiên tốt việc tuân thủ điều trị thuốc ARV tốt hơn.

II.4.5/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV) theo nghề nghiệp của bệnh nhân HIV/AIDS

Bảng 11: Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo nghề nghiệp của bệnh nhân HIV/AIDS

Nghề nghiệpTần số Tỷ lệ
Nông dân (n=30)2066,7
Công nhân, viên chức (n=39)3179,5
Buôn bán/ kinh doanh (n=55)4072,7
Thất nghiệp/nội trợ (n=23)1878,3
Khác (n=64)4468,8

Nhận xét:

Kết quả cho thấy bệnh nhân nghiên cứu có nghề nghiệp công nhân, viên chức tuân thủ điều trị thuốc ARV 78,3% (31/39); kế tiếp là thất nghiệp/nội trợ tuân thủ là 78,3% (18/23); nghề buôn bán/kinh doanh và nghề khác có tỷ lệ tuân thủ lần lượt là 72,7% (40/55) và 68,8% (44/64); nghề nông dân có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là 66,7% (20/30) (Bảng 3.17).

Những người có nghề nghiệp ổn định, có thu nhập thường có nhu cầu quan tâm sức khỏe bản thân. Họ luôn tìm hiểu và trao dồi thông tin về điều trị ARV, từ đó giúp họ tuân thủ điều trị tốt hơn so với người thu nhập thấp, việc làm không ổn định. Tuy nhiên, thực tế nhóm bệnh nhân thất nghiệp/nội trợ họ không phải đi làm việc, chỉ ở nhà nên họ sẽ ít bị quên thuốc và uống đúng giờ hơn so với bệnh nhân phải đi làm việc.

https://kimhung.vn/test-hiv/

II.4.6/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV theo tình trạng hôn nhân của bệnh nhân HIV/AIDS

Bảng 12: Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo tình trạng hôn nhân của bệnh nhân HIV/AIDS

Tình trạng hôn nhânTần số Tỷ lệ
Có gia đình (n=109)7871,6
Không có gia đình (n=102)7573,5

Nhận xét:

Bệnh nhân nghiên cứu có gia đình và không có gia đình có tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV gần tương đương nhau, tỷ lệ lần lượt là 71,6% (78/109) và 73,5% (75/102) .

Trên thực tế bệnh nhân có vợ hoặc chồng đang sinh sống thì họ thường hỗ trợ, chia sẻ, nhắc nhở, chăm sóc nhau trong việc tuân thủ điều trị tốt hơn những nhóm không có gia đình. Từ đó, việc tuân thủ điều trị thuốc ARV ở bệnh nhân có vợ hoặc chồng thường cao hơn nhóm bệnh nhân không có gia đình.

II.4.7/. Tuân thủ điều trị thuốc ARV theo kinh tế gia đình của bệnh nhân HIV/AIDS

Bảng 13: Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV theo gia đình của bệnh nhân HIV/AIDS

Kinh tế gia đìnhTần số Tỷ lệ
Hộ nghèo, cận nghèo (n=42)2969,0
Hộ trung bình (n=59)3966,1
Hộ khá, giàu (n=110)8577,3

Nhận xét: Bệnh nhân nghiên cứu kinh tế khá, giàu có tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc ARV cao nhất 77,3% (85/110); kế tiếp ở hộ nghèo, cận nghèo tuân thủ điều trị thuốc ARV là 69,0% (29/42) và tuân thủ điều trị thuốc ARV thấp nhất ở hộ có kinh tế gia đình trung bình là 66,1% (39/59) 

Những người có kinh tế cao, có thu nhập ổn định thường có nhu cầu quan tâm và chăm sóc sức khỏe của bản thân. Từ đó giúp họ tuân thủ điều trị thuốc ARV tốt hơn so với những người có thu nhập thấp và không ổn định. Cán bộ y tế tại phòng khám ngoại trú cần có những hỗ trợ đối với các bệnh nhân có kinh tế khó khăn như: qua công tác tư vấn định kỳ có thể cùng bệnh nhân tìm những biện pháp khắc phục cụ thể theo từng bệnh nhân về tăng cường tuân thủ; giới thiệu hỗ trợ cộng đồng xã hội: giới thiệu việc làm phù hợp; giới thiệu chính sách hỗ trợ nhà nước… để bệnh nhân có việc làm, tăng thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống và sức khỏe.

III/. Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị thuốc ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS 

III.1/. Mối liên quan giữa đặc điểm của bệnh nhân với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

III.1.1/. Mối liên quan giữa giới tính với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Bảng 14 : Mối liên quan giữa giới tính với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Giới tínhTuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

P
Không
n %n%
Nam (n=144)3826,410673,60,84 (0,44-1,60)0,60
Nữ (n=67 )2029,84770,2

Nhận xét: Kết quả Bảng 14 cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân nam thấp hơn nữ là 26,4% so với 29,8%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,60.

Kết quả cho thấy rằng dù là nam hay nữ thì việc tuân thủ điều trị thuốc ARV không khác nhau.

III.1.2/. Mối liên quan giữa tuổi với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Bảng 15 : Mối liên quan giữa tuổi với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Nhóm tuổiTuân thủ điều trị thuốc ARVOR

(KTC 95%)

P
Không
n%n%
16-29 (n=73) (1)1520,55879,51-2= 0,55 (0,27-1,10)0,09
30-39 (n=98) (2)3333,76566,31-3= 0,94 (0,38-2,44)0,94
≥ 40 (n=40) (3)0922,53177,52-3= 0,57 (0,24-1,34)0,19

Nhận xét: Bệnh nhân không tuân thủ điều trị thuốc ARV ở độ tuổi 30-39 cao nhất là 33,7%, tiếp đến ≥ 40 tuổi là 22,5%, 16-29 tuổi là 20,5% và sự khác biệt giữa các độ tuổi không có ý nghĩa thống kê, với p đều > 0,05 

Việc không tuân thủ điều trị thuốc ARV có thể do nhiều yếu tố khách quan tác động: trình độ văn hóa, công việc của bản thân chưa ổn định, kinh tế gia đình khó khăn, sức khỏe của bản thân. Ngoài ra, các đối tượng có sự hỗ trợ của người thân, gia đình và cộng đồng và tư vấn tuân thủ điều trị của cán bộ y tế nên sự tuân thủ điều trị có thể sẽ tốt dù ở lứa tuổi nào.

III.1.3/. Mối liên quan giữa học vấn với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Bảng 16 : Mối liên quan giữa học vấn với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Trình độ học vấnTuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

P
Không
n%n%
≤ Tiểu học (n=51) (1)1223,53976,51-2=0,58 (0,27-1,23)0,16
THCS và THPT (n=128) (2)4434,48465,61-3=4,61(0,95-22,20)0,05
ĐH, CĐ (n=32) (3)026,23093,82-3=7,85 (1,7934,41)0,006

Nhận xét: Bảng 16 cho thấy bệnh nhân điều trị thuốc ARV có trình độ THCS và THPT không tuân thủ điều trị cao hơn 7,85 lần so với bệnh nhân có trình cao đẳng, đại học. Khoảng tin cậy 95% của OR từ 1,79 đến 34,41 lần và p=0,006. Sự khác biệt giữa các nhóm trình độ khác đều không có ý nghĩa thống kê với p đều > 0,05.

Điều cho thấy trình độ học vấn cao sẽ tuân thủ điều trị thuốc ARV cao, nhưng đa số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có trình độ học vấn thấp, tỷ lệ bệnh nhân có bậc học từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỷ lệ không nhiều. Vì vậy, cán bộ y tế cần quan tâm, tăng cường cung cấp kiến thức điều trị thuốc ARV cho bệnh nhân có trình độ học vấn dưới cao đẳng, đại học để giúp họ tuân thủ điều trị tốt hơn.

III.1.4/. Mối liên quan giữa nghề nghiệp với không tuân thủ điều trị ARV

Bảng 17: Mối liên quan nghề nghiệp với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Nghề nghiệpTuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
Nông dân (n=30) (1)1033,32066,71-2= 1,93 (0,65-5,74)0,23
1-3= 1,33 (0,50-3,49)0,55
Công nhân, viên chức (n=39) (2)0820,53179,51-4= 1,80 (0,51-6,27)0,35
1-5= 1,10 (0,43-2,77)0,84
Buôn bán/kinh doanh (n=55) (3)1527,34072,72-3= 0,68 (0,25-1,83)0,45
2-4= 0,92 (0,26-3,27)0,90
Thất nghiệp/nội trợ (n=23) (4)0521,71878,32-5= 0,56 (0,22 -1,45)0,23
3-4= 1,35 (0,42-4,28)0,61
Khác (n=64) (5)2031,24468,83-5= 0,82 (0,37-1,82)0,63
4-5= 1,63 (0,53-5,03)0,39

Nhận xét:

Kết quả ở Bảng 17 cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm nghề nghiệp với không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân nghiên cứu, với p đều > 0,05 .

III.1.5/. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với không tuân thủ điều trị thuốc ARV 

Bảng 18: Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Tình trạng

 hôn nhân

Tuân thủ điều trị

thuốc ARV

OR

(KTC 95%)

P
Không
n%n%
Không (n=102 )2726,57573,50,90 (0,49-1,66)0,74
Có gia đình (n=109 )3128,47871,6

Nhận xét: Bảng 18 cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân có gia đình cao hơn bệnh nhân có gia đình là 28,4% so với 26,5%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,74.

Theo khuyến cáo thì bệnh nhân nên có người hỗ trợ điều trị thuốc ARV là người sống chung trong gia đình để việc điều trị tốt hơn. Bởi vì họ sẽ được sự hỗ trợ thêm từ người thân, gia đình về mặt tinh thần, cũng như là việc nhắc nhở uống thuốc, tái khám định kỳ. Đối với những bệnh nhân nặng, người thân trong gia đình đóng vai trò trong việc chăm sóc, cũng như là việc đưa đi tái khám, lấy thuốc. 

III.1.6/. Mối liên quan giữa kinh tế với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (Thuốc kháng Virus HIV)

Bảng 19: Mối liên quan giữa kinh tế với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Kinh tế gia đìnhTuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

P
Không
n%n%
Nghèo, cận nghèo (n=42) (1)1330,92969,11-2=0,87 (0,37-2,04)0,75
Trung bình (n=59) (2)2033,93966,11-3=1,52 (0,69-3,36)0,29
Khá, giàu (n=110) (3)2522,78577,32-3=0,57 (0,28-1,15)0,11

Nhận xét: Bảng 19 cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV) của bệnh nhân trung bình cao nhất (33,9%), kế tiếp nghèo, cận nghèo (30,9%) và thấp nhất là khá giàu (22,7%), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với p đều > 0,05.

Hiên nay, bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đều được nhận thuốc ARV miễn phí từ dự án hỗ trợ nên kinh tế gia đình của bệnh nhân không liên quan đến việc tuân thủ điều trị thuốc ARV. Trong thời gian tới, khi dự án ngừng tài trợ thuốc ARV và chuyển sang khám, điều trị thuốc ARV theo bảo hiểm y tế quy định thì có thể kinh tế gia đình có thể liên quan đến việc điều trị thuốc ARV.

III.1.7/. Mối liên quan giữa việc sử dụng ma túy với không tuân thủ điều trị thuốc ARV 

Bảng 20. Mối liên quan giữa việc sử dụng ma túy với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Sử dụng

ma túy

Tuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
Có (n=8)0337,50565,51,61 (0,37-6,98)0,51*
Không (n=203)5527,114872,9

* Fisher’s Exact test

Nhận xét: Bảng 20 cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân có sử dụng ma túy cao hơn bệnh nhân không sử dụng ma túy là 37,5% so với 27,1%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,51.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân có sử dụng ma túy cao hơn bệnh nhân không sử dụng ma túy là 37,5% so với 27,1%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,51. 

https://kimhung.vn/que-thu-ma-tuy/

Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn (211 mẫu), trong đó bệnh nhân sử dụng ma túy chỉ có 08 bệnh nhân (chiếm 3,8%) và nghiên cứu chỉ tiến hành trong tỉnh, cần phải có những nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn và nhiều địa điểm khác nhau để có thể tìm được kết quả khách quan hơn. Tuy nhiên, trong số bệnh nhân điều trị ARV có những đối tượng đang sử dụng ma túy (vì những đối tượng này đã từng tiêm chích ma túy và bị lây nhiễm HIV). Việc sử dụng ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của bệnh nhân, làm họ dễ quên thuốc hay uống không đúng giờ. Do đó, cán bộ y tế cần quan tâm đến những đối tượng này và yêu cầu họ cần có người nhà hỗ trợ trong quá trình điều trị thuốc ARV.

III.1.8/. Mối liên quan giữa tác dụng phụ với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Bảng 21: Mối liên quan giữa tác dụng phụ với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Tác dụng phụTuân thủ điều trị

thuốc ARV

OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
Có (n=84)3136,95363,12,16 (1,17-4,00)0,01
Không (n=127)2721,310078,7

Nhận xét: Kết quả Bảng 3.27 cho thấy bệnh nhân điều trị thuốc ARV gặp tác dụng phụ không tuân thủ điều trị cao hơn 2,16 lần so với bệnh nhân không có tác dụng phụ của thuốc. Khoảng tin cậy 95% của OR từ 1,17 đến 4,00 và p = 0,01

Cán bộ y tế cần quan tâm đặc biệt đối với những bệnh nhân bị tác dụng phụ của thuốc, hướng dẫn bệnh nhân nhận biết đúng những triệu chứng của tác dụng phụ nguy hiểm mới phải ngưng uống thuốc, biết được những triệu chứng nào phải duy trì uống thuốc và phải gặp cán bộ y tế khi có tác dụng phụ để xử trí đúng.

III.1.9/. Mối liên quan giữa bệnh nhân có điều trị phối hợp khác với không tuân thủ điều trị 

Bảng 22: Mối liên quan giữa bệnh nhân có điều trị phối hợp khác (Methadone, lao…) với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Điều trị phối hợp khácTuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
Có (n=48)1837,53062,51,84 (0,93-3,65)0,08
Không (n=163)4024,512375,5

Nhận xét:

Nhận xét: Bảng 22 cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân có điều trị phối hợp khác cao hơn bệnh nhân không điều trị phối hợp khác là 37,5% so với 24,5%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,08.

Thực tế, cho thấy việc bệnh nhân phải điều trị phối hợp thuốc khác dễ làm cho bệnh nhân dẫn đến tình trạng quên thuốc, uống thuốc không đúng giờ hoặc sợ thuốc do phải uống quá nhiều loại trong ngày. Từ đó, ảnh hưởng đến việc không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân.

III.1.10/. Mối liên quan giữa nhóm yếu tố hỗ trợ và khoảng cách từ nhà đến cơ sở với không tuân thủ điều trị 

Bảng 23. Mối liên quan giữa người hỗ trợ với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Người hỗ trợ

 điều trị

Tuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
Không (n=25) (1)0312,02288,01-2= 0,33 (0,90-1,21)0,09
1-3= 0,31 (0,08-1,17)0,08
Vợ/chồng  (n=79)    (2)2329,15670,91-4= 0,33 (0,08-1,35)0,12
1-5= 0,31 (0,05-1,94)0,21
Cha/mẹ (n=59) (3)1830,54169,52-3= 0,93 (0,44-1,95)0,85
2-4= 1,00 (0,43-2,36)0,98
Anh/chị/em (n=38) (4)1128,92771,12-5= 0,95 (0,22-4,03)0,95
3-4= 1,07 (0,44-2,63)0,87
Bạn bè (n=10) (5)0330,0770,03-5= 1,02 (0,23-4,41)0,97
4-5= 1,05 (0,22-4,82)0,94

Nhận xét:

Bảng 24 cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm người hỗ trợ với không tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân nghiên cứu với p đều > 0,05.

Sự nhắc nhở về việc uống thuốc của người hỗ trợ điều trị là rất quan trọng để tránh việc quên thuốc, uống thuốc không đúng giờ, đúng cách. Đặc biệt khi người bệnh gặp phải tác dụng phụ của thuốc thì rất cần sự an ủi, động viên và chăm sóc ăn uống, dinh dưỡng của gia đình nhiều hơn.

III.1.11/. Mối liên quan giữa mức độ nhận thông tin với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Bảng 25: Mối liên quan giữa mức độ nhận thông tin với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Mức độ nhận

thông tin

Tuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
Hàng tháng (n=206)5727,714972,31,53 (0,16-13,98)0,70*
3-4 tháng/ lần (n=05)0120,00480,0

*Fisher’s Exact test

Nhận xét: Bảng 25 cho thấy không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân có mức độ nhận thông tin 3-4 lần/tháng cao hơn bệnh nhân nhận thông tin hàng tháng là 27,7% so với 20,0%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p = 0,70.

Bởi vì trong nghiên cứu đa số bệnh nhân nhận được thông tin hàng tháng (97,6%), bệnh nhân nhận thông tin 3-4 lần tháng/lần chiếm rất thấp (2,4%). Điều này có thể do bệnh nhân khi tái khám hàng tháng, cán bộ y tế sẽ cung cấp thông tin về điều trị thuốc ARV cho họ. Đồng thời nghiên cứu của chúng tôi chỉ tiến hành trong tỉnh, cần phải có những nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn và nhiều địa điểm khác nhau để có thể tìm được kết quả khách quan hơn.

III.1.12/. Mối liên quan giữa mức độ nhận thông tin với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Bảng 26: Mối liên quan giữa khoảng cách từ nhà đến phòng khám với không tuân thủ điều trị thuốc ARV

Khoảng cách nhà tới phòng khámTuân thủ điều trị thuốc ARV OR

(KTC 95%)

p
Không
n%n%
<10km (n=80) (1)2126,25973,81-2=0,86 (0,43-1,71)0,66
10-30km (n=82) (2)2429,35870,71-3=0,98 (0,44-2,20)0,97
> 30km (n=49) (3)1326,53673,52-3=0,87 (0,39-1,92)0,73

Nhận xét:

Bảng 26 cho thấy không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân nghiên cứu có khoảng cách từ nhà đến phòng khám từ 10-30km cao nhất (29,3%), kế tiếp là > 30km và < 10km với tỷ lệ lần lượt là 26,5% và 26,2%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p đều > 0,05.

Việc tái khám chỉ thường xuyên trong giai đoạn bắt đầu điều trị thuốc ARV, khi bệnh nhân trong giai đoạn ổn định thì họ chỉ cần tái khám 1 lần/tháng. Do đó, trường hợp bệnh nhân không tuân thủ điều trị rất ít vì khoảng cách đến nơi nhận thuốc. Hiện nay, trên toàn tỉnh đã có 10 phòng khám ngoại trú và trong thời gian tới trung tâm sẽ hướng dẫn triển khai điều trị thuốc ARV trên tất cả các huyện/thị, thành phố để tạo điều kiện cho bệnh nhân được điều trị thuốc ARV trên địa bàn cư trú.

III.1.13/. Mối liên quan giữa kiến thức với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (Thuốc kháng Virus HIV)

Bảng 27 : Mối liên quan giữa kiến thức với không tuân thủ điều trị thuốc ARV (thuốc kháng Virus HIV)

Kiến thức về điều trị thuốc ARVTuân thủ điều trị

thuốc ARV

OR

(KTC 95%)

 

p
Không
n%N%
Chưa tốt (n=87)2933,35866,71,63 (0,89-3,01)0,11
Tốt (n=124)2923,49576,6

Nhận xét:

Bảng 27 cho thấy không tuân thủ điều trị thuốc ARV của bệnh nhân nghiên cứu có kiến thức chưa tốt cao hơn bệnh nhân có kiến thức tốt là 33,3% so với 23,4%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p = 0,11.

Trên thực tế, bệnh nhân có kiến thức tốt về thuốc ARV thì sẽ tuân thủ điều trị ARV tốt hơn vì họ hiểu rõ phương pháp điều trị ARV sẽ tác động đến mình ra sao, mang lại hiệu quả như thế nào, và để thuốc đạt được hiệu quả cao họ biết phải làm gì, tinh thần tự giác của họ sẽ cao hơn những bệnh nhân chưa có kiến thức tốt về thuốc ARV.

Xem thêm : Đặc điểm , Chẩn đoán bệnh nhân HIV AIDS

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ARV Thuốc kháng Virus HIV | | Sự kết hợp của 3 loại thuốc