Sử dụng các loại ma túy , Chất gây nghiện – Yếu tố nguy hại & Ứng dụng trong khám chữa bệnh

TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI MA TÚY – Chất gây tử vong & Ứng dụng trong khám chữa bệnh

Các loại ma túy – Định nghĩa tổng quát nhất : Ma túy là các chất có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý con người. Nếu lạm dụng các loại ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng.

CÁC LOẠI MA TÚY 

Trên thế giới có nhiều cách phân loại các loại chất ma túy mới song phổ biến nhất vẫn là 3 cách sau:

Phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ: Có 3 nhóm:

+ Ma túy có nguồn gốc tự nhiên : là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên hoặc nuôi trồng và các chế phẩm của chúng như thuốc phiện, cần sa, cây cô ca, cây lá khát, …

+ Ma túy bán tổng hợp : là loại ma túy được điều chế từ tự nhiên, có độc tố mạnh hơn như heroin, …

+ Ma túy tổng hợp :

– Một nhóm các loại chất ma túy không hề có trong tự nhiên (được tổng hợp nên từ các loại hóa chất hay được gọi là tiền chất

Ma túy tổng hợp gồm một nhóm khoảng 20 chất có nguồn gốc từ Amphetamine, tổng hợp nên từ Ephedrine – chất chủ yếu có trong cây Ma hoàng. Từ chất này, người ta lại điều chế ra các loại ma túy tổng hợp khác như: Methamphetamine (hàng đá, hồng phiến), ecstasy (thuốc lắc), v.v…

các loại ma túy tổng hợp
tìm hiểu về các loại ma túy tổng hợp

Từ năm 2010 trở lại đây, ngoài việc phải đối phó với các loại ma túy thuộc nhóm ATS, nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt với một nhóm các chất hướng thần mới. Trong số đó, nhiều chất được điều chế bất hợp pháp từ các loại thức ăn tổng hợp của gia súc, các loại phân hóa học hoặc từ một số loại thuốc bảo vệ thực vật rất nguy hiểm do chúng tác động chủ yếu vào hệ thần kinh và có chứa các dư lượng hóa chất độc hại khác.

Loại ma túy tổng hợp này nguy hiểm hơn các loại ma túy khác vì mức độ gây hại của nó đối với người nghiện, gia đình và cộng đồng lớn hơn, cai và bỏ cũng khó hơn.

 

Ke là gì

cây thuốc phiện

que thử ma túy


Phân loại theo tác động của chất ma túy lên cơ thể người sử dụng:

+ Các chất ma túy gây ức chế : Loại thuốc này khi đưa vào cơ thể chúng làm chậm hoặc ngăn cản tốc độ dẫn truyền các xung động thần kinh lên não. Người sử dụng có cảm giác tỉnh táo song chân tay không muốn cử động do máu dồn ra khu vực ngoại biên. Bao gồm: Thuốc phiện, Heroin, Cần sa (liều lượng thấp) các loại thuốc ngủ (secobarbital, immenoctal), thuốc an thần kinh (benzodiazepine, seduxen, mekohexen) …

các loại ma túy - Heroin
tìm hiểu về các loại ma túy – Heroin

+ Các chất kích thích : là thuốc có tác dụng làm tăng nhanh hoạt động của hệ thống thần kinh và nhiều bộ phận trong cơ thể. Người sử dụng cảm thấy hưng phấn, tự tin, thích tranh luận song sau đó là sự mệt mỏi về thể xác và bạc nhược về tinh thần. Chủ yếu gồm các loại ma túy tổng hợp Amphetamin và những loại thuốc cùng họ hoặc có công thức hoá học rất gần như Dexamphetamine, Metamphetamine, Methylenedioxymethamphetamine (MDMA), Methylpheniate…

+ Các chất gây ảo giác : Là nhóm các loại chất ma túy làm cho người sử dụng cảm nhận một cách sai lệch, méo mó các thông điệp về hình ảnh, màu sắc, âm thanh, v.v… khi đến não.

               Nhóm này chủ yếu gồm các chất như:

– Các loại ma túy tổng hợp thế hệ mới (Canabinoids, Kratome, v.v…),

– LSD (được tổng hợp từ một loại nấm mọc trên cây lúa mạch ở khu vực Trung Á),

– MDMA (ecstasy, thuốc lắc), Ketamine, Cần sa (marijuana, hash, hash oil) ở liều lượng mạnh

– DMT (dimethyltryptamine)

– DOM hay STP (chất tổng hợp từ Mescaline),


Phân loại chất ma túy theo tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp

+ Ma túy hợp pháp : là các loại ma túy thông dụng: rượu bia, thuốc lá (ni-cô-tin), ca-phê-in, thuốc ngủ an thần, thuốc giảm đau thông thường…

+ Ma túy bất hợp pháp : Theo luật pháp của Việt Nam, các loại chất ma túy bất hợp pháp có thể kể đến là: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocaine, thuốc lắc, các chất gây nghiện kích thích dạng Amphetamins…

Lưu ý : Một số chất gây nghiện ví dụ như: Morphine, Dolagan, Methadone, ketamine v.v… nếu được sử dụng để điều trị cho người bệnh thì không bị coi là ma túy. Chúng là các chất gây nghiện hợp pháp. Tuy nhiên, những chất này, nếu sử dụng sai mục đích chữa bệnh, không do cấp có thẩm quyền quy định thì bị coi là ma túy.

Một số cách phân loại khác

  • Căn cứ vào nguồn gốc và cơ chế dược lí của các loại ma túy, Liên Hợp Quốc đã chia thành 5 nhóm:

+ Nhóm 1: các loại Ma túy làm từ các chất từ cây thuốc phiện (opiates)

+ Nhóm 2: các loại ma túy làm từ các chất từ cây cần sa (canabis)

+ Nhóm 3: ma túy là các chất gây kích thích (sitimulants)

+ Nhóm 4: Ma túy là các chất gây ức chế (depressants)

+ Nhóm 5: Ma túy là các chất gây ảo giác (hallucinorens)

  • Căn cứ nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, Việt Nam qui định hiện có 515 loại ma túy và 44 tiền chất dùng để sản xuất ma túy, chia làm 4 nhóm sau:

+ Các chất ma túy có thuộc tính gây nghiện

+ Nhóm các chất ma túy an thần

+ Nhóm các chất ma túy gây ảo giác

+ Nhóm các chất ma túy gây kích thích

 

que thử ma túy 


SỬ DỤNG MA TÚY – TIÊU CỰC

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm

Ma túy là một chất có khả năng bất hợp pháp và chúng tôi không khuyến khích hoặc bỏ qua việc sử dụng chất này khi nó trái pháp luật. Tuy nhiên, chúng tôi chấp nhận rằng việc sử dụng ma túy bất hợp pháp hoàn toàn có thể và đang xảy ra và tin rằng việc cung cấp thông tin nhằm giảm tác hại là hoàn toàn trách nhiệm và là bắt buộc để giữ an toàn cho mọi người. Vì lý do đó, hướng dẫn này được thiết kế để đảm bảo an toàn cho những người quyết định sử dụng chất này một cách hợp pháp hay bất hợp pháp.

Heroin : là một loại thuốc bất hợp pháp, gây nghiện cao được chế biến từ morphin, một chất tự nhiên được chiết xuất từ ​​vỏ hạt của một số loại cây thuốc phiện.

  • Heroin nguyên chất : có độ tinh khiết cao , là một loại bột trắng có vị đắng (chủ yếu có nguồn gốc từ Nam Mỹ và ở một mức độ thấp hơn xuất xứ từ Đông Nam Á) thường được sử dụng qua con đường khịt mũi , hút hoặc hít.
  • Heroin nâu “hắc ín” : dính như nhựa lợp hoặc cứng như than (được sản xuất chủ yếu ở Mexico) . Màu tối liên quan đến heroin hắc ín là kết quả của các phương pháp xử lý thô để lại tạp chất. Heroin không tinh khiết thường được hòa tan, pha loãng và tiêm vào tĩnh mạch, cơ hoặc dưới da.

Các dạng tồn tại và cách sử dụng ma túy HEROIN

Chích : Người nghiện hoặc chủ chích pha ma túy vào trong hũ nước, có khi pha thêm những chất như : mủ xương rồng, nước vôi trong, thuốc vệ sinh phụ nữ, nước đái, nước miếng, nước ngọt, thuốc đạn… và đặc biệt nguy hiểm họ còn có thể pha những thứ mà họ tưởng tượng ra là có thể gây cảm giác hơn như : nhớt xe gắn máy, thuốc của súng đạn vào rồi chích; Các loại thuốc dạng nước như morphine, thuốc ngủ cũng thường dùng dưới dạng chích.

Hút : Người nghiện cho heroin vào trong điếu thuốc rồi hút; người nghiện quấn lá cần sa (bồ dà) thành điếu thuốc rồi hút; hoắc xắt nhỏ lá cần sa thành sợi thuốc lá rồi quấn thành điếu như điếu thuốc lá rồi hút, nhưng thường gặp nhất là dùng một chai nước suối loại 500ml đục một lỗ nhỏ rồi trộn lẫn sợi bồ đà lẫn thuốc lá rồi hút như hút thuốc lào.

Hít :  Người nghiện để Heroin lên mặt trên tờ giấy bạc và dùng lữa đốt phía dưới để heroin bốc thành khói trắng bay lên rồi hít khói đó qua một ống (dùng tiền quấn lại) hay hút trực tiếp từ miệng; Hoặc nếu nghiện nặng thì có thể hít trực tiếp  bột heroin vào trong mũi.

Uống : Uống thuốc phiện, có khi uống sái (chất cặn) thuốc phiện cho qua cơn nghiện; hoặc uống các loại thuốc ngủ hay an thần khác, DMD, Estasy.

Nhai : Một số loại lá khi nhai có tạo nên ảo giác.

Cá biệt : có những trường hợp nghiện nặng, các mạch máu dã bị hư hoại, người nghiện có thể rạch tay, rạch chân rồi chà, xát ma túy vào những nơi rạch đó để ma túy thấm vào trong máu.

Khi heroin thâm nhập vào não, nó được chuyển thành morphin .

 

Người sử dụng Heroin thường có các biểu hiện bên ngoài sau :

  • Buồn nôn, nôn & ngứa dữ dội cũng có thể xảy ra
  • một làn da đỏ ửng
  • khô miệng và cảm giác nặng nề ở tứ chi.

 

Sau những tác động ban đầu, người dùng thường sẽ buồn ngủ trong vài giờ; chức năng tinh thần bị che mờ; chức năng tim chậm lại; và hơi thở cũng bị chậm lại nghiêm trọng, đôi khi đủ để đe dọa tính mạng. Thở chậm cũng có thể dẫn đến hôn mê và tổn thương não vĩnh viễn.

Sử dụng heroin nhiều lần làm thay đổi cấu trúc vật lý và sinh lý của não, tạo ra sự mất cân bằng lâu dài trong hệ thống thần kinh và nội tiết tố & rất khó để chữa lành & hồi phục.

 

Người dùng heroin mãn tính đều gặp phải :

  • Rối loạn tâm thần, chẳng hạn như trầm cảm và rối loạn nhân cách , chống đối xã hội.
  • Biến chứng y khoa (bao gồm mất ngủ và táo bón….)
  • Biến chứng về phổi (bao gồm nhiều loại viêm phổi và bệnh lao….)
  • Hỏng các mô niêm mạc trong mũi cũng như làm thủng vách ngăn mũi (mô ngăn cách đường mũi).
  • Đàn ông thường bị rối loạn chức năng tình dục.
  • Chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ thường trở nên bất thường.
các loại ma túy & Ảnh hưởng lên cơ thể
tìm hiểu về các loại ma túy & Ảnh hưởng lên cơ thể
  • Nhiễm trùng viêm gan B và C, HIV và một loạt các vi rút gây bệnh máu khác thông qua tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể bị nhiễm bệnh (ví dụ như tinh dịch, nước bọt), do việc dùng chung ống tiêm và dụng cụ tiêm đã được sử dụng bởi những người bị nhiễm bệnh hoặc thông qua quan hệ tình dục không được bảo vệ với người bị nhiễm bệnh.  sau đó người dùng ma túy có thể truyền sang bạn tình và trẻ nhỏ.
  • tắc nghẽn các mạch máu dẫn đến phổi, gan, thận hoặc não do nhiều chất phụ gia trong heroin rẻ tiền có thể bao gồm các chất không dễ dàng hòa tan

Đặc biệt lưu ý :

Sử dụng heroin khi mang thai có thể dẫn đến hội chứng cai nghiện ở trẻ sơ sinh (NAS). NAS xảy ra khi heroin đi qua nhau thai đến thai nhi khi mang thai, khiến em bé bị lệ thuộc, cùng với người mẹ. Các triệu chứng bao gồm khóc quá nhiều, sốt, khó chịu, co giật, tăng cân chậm, run rẩy, tiêu chảy, nôn mửa và có thể tử vong.

Quá liều là hậu quả nguy hiểm và chết người của việc sử dụng heroin. Một lượng lớn heroin làm giảm nhịp tim và nhịp thở đến mức người dùng không thể sống sót mà không cần trợ giúp y tế.


COCAINE

Cocaine là một loại thuốc kích thích gây nghiện mạnh mẽ có thể thay đổi cấu trúc và chức năng của não nếu được sử dụng nhiều lần.

  • Trong hàng ngàn năm, người dân ở Nam Mỹ đã nhai và ăn lá coca ( Erythroxylon coca ), nguồn gốc của cocaine, vì tác dụng kích thích của chúng.
  • Đầu những năm 1900, cocaine tinh khiết là thành phần hoạt chất chính trong nhiều loại thuốc bổ và thuốc tiên được phát triển để điều trị nhiều loại bệnh và thậm chí còn là một thành phần trong các công thức ban đầu của Coca-Cola ®.
  • Trước khi phát triển thuốc gây tê cục bộ tổng hợp, các bác sĩ phẫu thuật đã sử dụng cocaine để giảm đau.

Là một trong các loại ma túy đường phố, cocaine xuất hiện dưới dạng bột tinh thể, trắng, mịn và còn được gọi theo tên tiếng Anh là  Coke, C, Snow, owder  hoặc  Blow . Các con buôn ma túy thường pha loãng  nó với các chất không gây nghiện rẻ tiền như bột bắp, bột hoạt thạch, bột hoặc baking soda để tăng lợi nhuận của họ. Họ cũng có thể pha trộn cocaine với các loại thuốc khác như Procaine (thuốc gây tê cục bộ liên quan đến hóa học) hoặc amphetamine (một chất kích thích tâm sinh lý khác). Một số người dùng kết hợp cocaine với heroin, được gọi là  Speedball .

Các dạng tồn tại của COCAINE

       + Cocaine ở dạng bột – phổ biến và đắt tiền nhất. Người dùng mua cocaine ở dạng bột với một vài tinh thể nhỏ ném vào, họ nghiền nát nó bằng thẻ  tín dụng hoặc thực hiện tương tự, cắt nó thành hàng và sau đó sử dụng ống hút hoặc cuộn giấy bạc hít vào mũi.

+ Cocaine ở dạng tinh thể màu vàng , trắng hoặc hồng nhạt phổ biến nhất. Người dùng làm nóng cocaine để hút. Khi nó nóng lên, nó phát ra âm thanh nứt/bật, do đó, còn có tên gọi khác là thuốc nứt. Đây không chỉ là dạng cocaine tinh khiết nhất còn gây nghiện nhất, mạnh hơn cả cocaine dạng bột.

+ Có hai dạng cocaine hóa học thường được tiêu thụ: muối hydrochloride (hòa tan trong nước) và tinh thể cocaine hoặc bazơ, được gọi bằng tiếng Anh là “freebase” (không tan trong nước). Muối hydrochloride, hoặc dạng cocaine dạng bột, được tiêu thụ bằng cách tiêm hoặc khịt mũi. Các tinh thể cocaine hoặc freebase đã được xử lý bằng ammonia hoặc natri bicarbonate và nước và sau đó được đun nóng để loại bỏ hydrochloride và tạo ra một chất có mùi.

Những kẻ buôn bán thường trộn cocaine với các chất trơ khác, như bột bắp, hoạt thạch hoặc đường; hoặc với một số loại thuốc hoạt động nhất định như Procaine (thuốc gây tê cục bộ có thành phần hóa học tương tự) hoặc các chất kích thích khác, chẳng hạn như amphetamine.

Các cách sử dụng Cocaine là uống, hít, tiêm tĩnh mạch và chà vào nướu.

+ Khi hút thuốc, hơi hoặc khói cocaine được hít vào phổi, nơi nó được máu hấp thụ với tốc độ tương tự như khi tiêm.

+ Hình thức “khịt mũi” là quá trình hít cocaine bột qua mũi, từ đó nó đi trực tiếp vào máu qua màng mũi.

+ Tiêm hoặc tiêm tĩnh mạch vận chuyển thuốc trực tiếp vào máu, do đó làm tăng cường độ tác dụng của nó.

+ Một số người sử dụng cocaine chà xát cocaine lên nướu để có được độ phê cao.

Có khi dân chơi trộn cocaine với cần sa hoặc thuốc lá hay heroin trong hỗn hợp ma túy đặc biệt độc hại được gọi là speedball.

Bất kỳ phương pháp sử dụng nào cũng có thể gây ra sự hấp thụ lượng độc hại của thuốc, với khả năng cấp cứu tim mạch hoặc mạch máu cấp tính và co giật, một trong hai có thể dẫn đến tử vong đột ngột.

Cocain có thể ở trong cơ thể của bạn tới 90 ngày. Bằng chứng về việc sử dụng cocaine có thể được tìm thấy trong nước tiểu tới bốn ngày, nhưng thuốc có thể được phát hiện trong các mẫu tóc vài tháng sau lần sử dụng cuối cùng.

Tác động & hậu quả của cocacin lên cơ thể

+ Ảnh hưởng tim mạch như rối loạn nhịp tim và đau tim; một số hiệu ứng thần kinh bao gồm đột quỵ, co giật, đau đầu và thậm chí hôn mê; và các biến chứng đường tiêu hóa, chẳng hạn như đau bụng và buồn nôn. Thuốc có thể kích hoạt các cơn đau tim, đột quỵ và đột tử – và nó gây nghiện mạnh mẽ.

+ Tác dụng của cocaine xuất hiện gần như ngay lập tức sau một liều duy nhất và biến mất trong vòng vài phút hoặc trong vòng một giờ.

+ Tăng nguy cơ hành vi bạo lực hoặc có hại như giết người và tự sát. Rơi vào hoang tưởng, rối loạn tâm thần, bồn chồn lo lắng hoặc hưng phấn, hoạt bát.

+ Tác dụng cocaine lên não: Khi thuốc xâm nhập vào não, nó sẽ kích hoạt sự bùng nổ của dopamine, một chất hóa học gây cảm giác hưng phấn ngắn ngủi. Dopamine cũng hoạt động trên hệ thống thưởng của não theo những cách khiến mọi người muốn sử dụng thuốc một cách bắt buộc. Một khi cơn sốt giảm dần, mọi người thường thèm nhiều cocaine hơn.

Cocaine thường được sử dụng nhiều lần và tăng liều, điều này có thể dẫn đến trạng thái khó chịu, bồn chồn và hoang tưởng và thậm chí có thể gây ra một đợt rối loạn tâm thần hoang tưởng trong đó cảm giác thực tế và bị ảo giác thính giác. Tăng liều hoặc tần suất tiêu thụ cũng làm tăng nguy cơ ảnh hưởng xấu đến tâm lý hoặc sinh lý. Xuất huyết nội sọ hoặc chảy máu trong não cũng có khả năng cao xảy ra.

tìm hiểu về các loại ma túy
tìm hiểu về các loại ma túy

Những người lạm dụng cocaine có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm cao hơn, chẳng hạn như hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) do virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) gây ra, ngoài viêm gan virut. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng ma túy cũng có thể cản trở khả năng phán đoán và ra quyết định tốt, khiến người dùng có khả năng quan hệ tình dục rủi ro, chia sẻ ống tiêm và các thiết bị tiêm khác và trao đổi tình dục với ma túy (cả nam và nữ). Trong thực tế, nhiễm vi-rút viêm gan C (HCV) cũng đã lây lan nhanh chóng ở những người tiêm chích ma túy.

Các phản ứng bất lợi do sử dụng cocaine khác nhau tùy thuộc vào cách sử dụng. Ví dụ, hít phải thường xuyên có thể gây mất khứu giác, chảy máu mũi, khó nuốt, khàn giọng và kích thích chung của vách ngăn mũi, có thể dẫn đến tình trạng kích thích mãn tính và chảy nước mũi. Khi ăn vào, cocaine có thể gây ra hoại tử nghiêm trọng trong ruột vì nó làm giảm lưu lượng máu. Ngoài ra, những người tiêm nó có vết đâm thủng và đường dẫn độc được gọi là “dấu vết”, thường là trên cẳng tay. Người dùng tiêm tĩnh mạch cũng có thể gặp phản ứng dị ứng, với thuốc hoặc một số chất phụ gia được thêm vào cocaine rẻ tiền và trong trường hợp nghiêm trọng nhất, những phản ứng này có thể dẫn đến tử vong.

+ Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy những em bé bị mẹ lạm dụng cocaine khi mang thai thường sinh non và cân nặng, chiều cao và trí tuệ thấp hơn so với những đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ không sử dụng cocaine. Tuy nhiên, rất khó để tính toán tác động đầy đủ của hậu quả của việc sử dụng thuốc của mẹ và để xác định mối nguy hiểm cụ thể đối với thai nhi.

+ Cocain và rượu tạo ra một trong những chất chuyển hóa mạnh nhất được gọi là cocaetylen. Cocaetylen cũng tồn tại trong cơ thể lâu hơn nhiều so với cocaine và tác dụng độc hại của nó tồn tại lâu hơn (trong nhiều ngày đến thậm chí vài tuần trong cơ thể.) Rượu duy trì cảm giác hưng phấn và ham muốn sử dụng cocain, giảm bớt sự khó chịu khi hưng phấn giảm dần. Thậm chí nó còn làm gia tăng nguy cơ quá liều cocain và khả năng tái nghiện. Rượu kết hợp với Cocain gây ra đột quỵ, chảy máu não, nhiễm độc tim mãn tính, đau tim, rối loạn nhịp tim; có hành vi bạo lực, tổn thương gan, tăng nguy cơ ung thư … Nghiên cứu cho thấy sử dụng rượu và cocaine khi mang thai có tác dụng tiêu cực đối với cả mẹ và thai nhi. Những ảnh hưởng này có thể có tác động sức khỏe lâu dài đối với cả mẹ và con.  Kết hợp các chất này trong khi mang thai có thể gây ra: sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, cân nặng khi sinh thấp, chậm phát triển về học tập, sự chú ý, cảm xúc và sự phát triển về thể chất và tinh thần.

các loại ma túy & Ảnh hưởng lên thai nhi
các loại ma túy & Ảnh hưởng lên thai nhi

Ma túy đá (METHAMPHETAMINE)

Methamphetamine là một chất kích thích mạnh mẽ, gây nghiện cao, ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương. Crystal methamphetamine là một dạng của thuốc trông giống như những mảnh thủy tinh hoặc đá sáng bóng, màu trắng xanh. Nó tương tự về mặt hóa học với amphetamine, một loại thuốc dùng để điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và chứng ngủ rũ, một chứng rối loạn giấc ngủ.

Methamphetamin có độ phê pha cao tương tự như cocaine, nhưng tác dụng của loại thuốc này có thể kéo dài tới 12 giờ, tùy thuộc vào cách sử dụng. Người sử dụng methamphetamine thích nó vì nó mang lại cho họ năng lượng và khiến họ cảm thấy tự tin, tỉnh táo, không thèm ăn và mạnh mẽ trong nhiều giờ.

Uống methamphetamine được làm bằng hóa chất độc hại có thành phần từ pin, chất lỏng làm sạch và chất chống đông đã gây hại nghiêm trọng sức khỏe.

 

Tác dụng tiêu cực khi sử dụng methamphetamin độc lập

+ Sử dụng methamphetamine, dù chỉ một lần, đã làm cho bạn nghiện, không thể từ bỏ. Vì thế, độ an toàn với chất kích thích này là số 0.

+ Tăng sự tỉnh táo và hoạt động thể chất, giảm sự thèm ăn, thở nhanh hơn, nhịp tim nhanh và/hoặc không đều, tăng huyết áp và nhiệt độ cơ thể.

+ Uống một lượng nhỏ methamphetamine có thể dẫn đến nhiều tác dụng sức khỏe tương tự như các chất kích thích khác, chẳng hạn như cocaine hoặc amphetamine.

Nhưng khi dùng liều cao hoặc quá liều sẽ gây ra:

+ Kích động, quá nóng và sốt nặng, mất phương hướng, tăng huyết áp dẫn đến nguy cơ đột quỵ hoặc đau tim, bị co giật hoặc nhịp tim bất thường.

+ Cảm giác bồn chồn và lo lắng, nói không ngừng. Dẫn đến cảm giác hoang tưởng như không thể tin tưởng những người xung quanh, bao gồm cả bạn bè. Bạn có thể trở nên bối rối, tức giận và bạo lực.

+ Khi bạn ngừng sử dụng, bạn cảm thấy mệt mỏi, lo lắng, đói, đổ mồ hôi, chán nản và rất cáu kỉnh, nhức đầu dữ dội kéo dài.

Sử dụng nhiều methamphetamine hoặc sử dụng trong một thời gian dài có thể:

+ Suy giảm chức năng của não bộ gây mất trí nhớ, suy nghĩ rắc rối, trầm cảm, run rẩy, lú lẫn, ảo giác.
+ Triệu chứng hoang tưởng, ảo giác và lo sợ tăng cao kéo dài nhiều năm khi bạn ngừng sử dụng.

(Mặc dù một số thay đổi trong não này có thể phục hồi phần nào sau khi ngừng sử dụng thuốc trong một năm hoặc hơn, những thay đổi khác có thể không phục hồi được mà còn làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson, một chứng rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến vận động.)

+ Suy nhược cơ thể do rối loạn thèm ăn, giảm cân cực độ, hệ thống miễn dịch trở nên kém đi.
+ Vấn đề răng miệng nghiêm trọng, ngứa dữ dội, dẫn đến lở loét da.
+ Sử dụng meth làm tăng nguy cơ đột quỵ và đau tim cùng với các tác hại nghiêm trọng khác đối với sức khỏe.

Tác dụng tiêu cực của methamphetamin còn phụ thuộc vào con đường tiếp nhận của người dùng:

+ Hút : là phương pháp phổ biến nhất và hiệu quả lớn nhất. Muối hydrochloride của methamphetamine có thể tự hút mà không cần phải thêm nó vào một thứ khác hoặc thay đổi hình thức của nó. Thông thường, ma túy đá được hút trong một ống thủy tinh nhỏ gọi là “sáo” còn được dân chơi gọi tiếng lóng là “bình” hay “nỏ”. Hút thuốc làm cho thuốc có tác dụng ngay lập tức và độ phê cao, kéo theo bệnh sâu răng và răng bị ố hoặc thối rữa.

+ Tiêm bằng cách pha loãng meth tinh thể từ dạng bột vào chất lỏng và tiêm trực tiếp vào máu. Bạn sẽ có nguy cơ lây lan hoặc mắc bệnh viêm gan hoặc HIV, tạo cơ hội cho vi trùng xâm nhập vào cơ thể bạn gây nhiễm trùng trên toàn bộ bao gồm cả não, xương, tim và máu của bạn.

+ Khịt mũi : Mặc dù các hiệu ứng không cảm thấy tức thì như tiêm hay hút meth, nhưng chỉ mất vài phút để cảm thấy phê khi hít phải meth. Các tinh thể được nghiền thành bột mịn có thể hít vào dễ dàng qua mũi gây tổn thương lâu dài cho xoang, chảy nước mũi và máu cam mãn tính, tổn thương mô mũi, tạo ra một lỗ thủng tại hốc xoang.

+ Nuốt thuốc Methamphetamine: là cách sử dụng thuốc chậm nhất và có thể mất 15-20 phút để cảm nhận được tác dụng của nó. Uống meth dưới dạng thuốc viên có thể làm tăng nguy cơ phản ứng xấu hoặc quá liều, có thể gây tàn phế hoặc tử vong lâu dài.

* Trong một số trường hợp, người ta dùng ma túy đá dưới dạng “cắn”

Sử dụng methamphetamin đi kèm với việc quan hệ tình dục bừa bãi để “xả đá”. Điều này xảy ra nhiều khả năng quan hệ tình dục khó khăn hơn, hoặc mạo hiểm trong quan hệ tình dục làm tăng cơ hội mắc hoặc lây lan viêm gan hoặc HIV, tăng nguy cơ nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, virus truyền qua đường máu, chấn thương liên quan đến tình dục, tấn công tình dục và sử dụng nhiều meth hơn bạn dự định. Về lâu dài rối loạn chức năng tình dục ở đàn ông và sinh sản ở đàn bà.

 

Tác dụng tiêu cực của methamphetamin khi sử dụng kết hợp với các chất khác

+ Trộn meth với rượu: có thể có tác dụng che lấp nguy hiểm, có nghĩa là bạn sử dụng số lượng lớn hơn của cả hai loại thuốc mà không nhận ra. Từ đó làm tăng nguy cơ quá liều hoặc ngộ độc.

+ Trộn meth với các chất kích thích khác như cocaine, thuốc tăng cường hiệu suất và hình ảnh hoặc thuốc lắc có thể làm tăng tác dụng phụ tiêu cực của cả hai loại thuốc. Điều này có thể dẫn đến những tác động khó lường và làm tăng nguy cơ nhiễm độc và co giật, đau tim và đột quỵ.

+ Trộn meth với thuốc chống loạn thần hoặc thuốc chống trầm cảm có thể gây ra hội chứng serotonin (độc tính) và có thể làm giảm hiệu quả của thuốc.

+ Trộn meth với Viagra® hoặc amyl nitrate có thể làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.

+ Trộn meth với thuốc kháng vi-rút của bạn có thể ảnh hưởng đến mức độ hoạt động của ART, có thể làm tăng tải lượng virus của bạn và dẫn đến các tác hại sức khỏe khác liên quan đến HIV.
+ Trộn meth với opioids hoặc benzodiazepin dẫn đến lượng lớn hơn cả hai loại thuốc được sử dụng mà người bệnh không nhận ra, làm tăng nguy cơ quá liều opioid.

 


Cần Sa (MARIJUANA)

Cần sa là một trong những loại thuốc bị lạm dụng nhất trên thế giới. Cần sa có nguồn gốc từ cây gai dầu Ấn Độ, và phần có chứa thuốc ma thuật được tìm thấy chủ yếu trong các loài hoa (thường được gọi là nụ) và ít hơn nhiều trong hạt, lá và thân của cây.

Cần sa, khi được bán, là một hỗn hợp của lá khô, thân, hoa và hạt của cây gai dầu. Nó thường có màu xanh lá cây, nâu hoặc xám.

các loại ma túy - Marijuana
tìm hiểu về ma túy – Marijuana

Một số đặc điểm riêng biệt của cần sa

+ Cần sa, cũng có thể được gọi là cỏ dại, chậu, dope chứa các hợp chất làm thay đổi tâm trí như tetrahydrocannabinol hoặc THC, cũng như các hợp chất hoạt động khác như cannabidiol hoặc CBD, không làm thay đổi tâm trí. Có nghĩa là người ta có thể thu được cả độc tố và chất không gây hại trên cần sa.
+ Cần sa, khi được bán, là một hỗn hợp của lá khô, thân, hoa và hạt của cây gai dầu. Nó thường có màu xanh lá cây, nâu hoặc xám. Hashish là nhựa nâu hoặc đen được sấy khô và ép thành thanh, que hoặc bóng. Khi hút thuốc, cả cần sa và băm đều tỏa ra mùi thơm đặc trưng.

+ Cần sa là một loại thuốc có các thành phần không hoàn toàn giống nhau từ cây này sang cây khác. Không có cách để biết loại nào và bao nhiêu hóa chất bạn nhận được từ một cây cần sa. Theo nghiên cứu có khoảng hơn 400 hóa chất trong cần sa và băm.
+ Cannabinoids tổng hợp (ví dụ, cần sa tổng hợp, K2, Spice, Spike). Cannabinoid tổng hợp không phải là cần sa, nhưng giống như THC, chúng liên kết với cùng các thụ thể cannabinoid trong não và các cơ quan khác.
+ Cần sa được chế biến dưới các hình thức như:
  + Dầu là chất cô đặc cần sa thường được nuốt và / hoặc ăn bằng cách nấu, nướng hoặc trộn với thức ăn hoặc ở dạng viên nang.
  + Rượu thuốc là chất lỏng được chiết xuất từ cây cần sa sử dụng rượu. Chúng được sử dụng bằng cách đặt giọt dưới lưỡi để hấp thụ nhanh. Đây là một dạng cần sa rất mạnh, tập trung cao độ được biết đến để tạo ra một loại thuốc có tác dụng nhanh, cường độ cao.
  + Cần sa có thể được nướng hoặc trộn vào nhiều loại thực phẩm, đồ ăn nhẹ và các sản phẩm kẹo, bánh ngọt, bánh quy, bánh quy giòn, kem, ngũ cốc, granola, v.v.
  + Những đồ uống cần sa có trong trà, soda, thuốc tiên và bia. Một số loại trà được làm bằng cách nghiền cần sa, trộn nó với bơ hoặc chất béo khác và đặt hỗn hợp vào túi trà. Các túi này sau đó được đun trong nước khoảng 30 phút.

Cần sa được sử dụng như thế nào

Hút

              Hít phải (hút thuốc) là phương pháp tiêu thụ cần sa phổ biến nhất trên thị trường hiện nay. Đó cũng là cách nhanh nhất để đưa THC được yêu thích vào hệ thống của bạn. Bởi vì cannabinoids xâm nhập vào cơ thể bạn thông qua phổi của bạn, chúng được truyền trực tiếp vào máu của bạn.
              Liều dùng: Bắt đầu nhỏ! Hít nhẹ. Không cần phải giữ khói trong phổi của bạn. Đợi vài phút. Nếu bạn không cảm thấy hiệu ứng mong muốn hoặc bạn muốn cảm thấy hiệu ứng lớn hơn, hãy thực hiện một liều khác mạnh hơn.
              Và bởi vì máu chảy ở mức trung bình 3-4 dặm một giờ, một khi Cần sa (THC) thâm nhập hệ thống tuần hoàn của bạn, nó chỉ mất một vài giây để đạt tới não của bạn.
              Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Tạp chí Hóa học và Đa dạng sinh học , các đối tượng tiêu thụ cần sa thông qua đường hô hấp đã cảm nhận được tác dụng của cần sa trong vòng vài phút. Điều đó nhanh hơn bất kỳ phương pháp nào khác dưới đây.
               Mặc dù hút thuốc là phương pháp sinh nở nhanh nhất, nhưng nó cũng gây hại nhất cho phổi .

“Cùn”

Cùn là cần sa được cuận trong giấy xì gà làm từ cây thuốc lá và có chứa nicotin . Dân chơi Bắc mỹ thích dùng Cùn do hương vị và tác dụng kết hợp của cần sa & nicotine. Ngoài ra, cùn thường dày hơn và giữ nhiều cỏ dại hơn, làm cho chúng trở thành một lựa chọn mạnh mẽ hơn so với khớp nhỏ hơn và mỏng hơn.

tìm hiểu về ma túy
tìm hiểu về ma túy

Cần sa có thể được hút như một điếu thuốc , nhưng cũng có thể được hút trong một ống khô . Nó cũng có thể được trộn với thức ăn hoặc pha như trà.

Khi cần sa được hút, THC và các hóa chất khác trong cây sẽ truyền từ phổi vào máu, nhanh chóng mang chúng đi khắp cơ thể đến não. Người dùng bắt đầu trải nghiệm các hiệu ứng gần như ngay lập tức:

    • tăng nhịp tim
    • giảm sự phối hợp và cân bằng, và một trạng thái mơ màng, không thực tế của đỉnh cao trong vòng 30 phút đầu tiên.

Các tác động phổ biến khác, có thể thay đổi đáng kể giữa những người khác nhau, bao gồm nhận thức cảm giác cao (ví dụ, màu sáng hơn), tiếng cười, nhận thức thay đổi về thời gian và tăng sự thèm ăn.

Uống

Cần sa cũng có thể được uống. Tác dụng bằng đường uống chậm hơn nhưng dụng mạnh hơn và kéo dài hơn so với khi hít vào. Độ phê có thể kéo dài trong ba mươi phút đến một giờ hoặc lâu hơn , cao nhất trong khoảng hai giờ và tổng thời gian tác dụng kéo dài đến sáu giờ. Điều này là do, trong quá trình tiêu hóa, cannabinoids trải qua một quá trình biến đổi hóa học làm cho chúng mạnh hơn. Ngoài ra, khi ăn bằng miệng, cần sa được hấp thụ hoàn toàn không bị mất do dính vào đường ống hoặc giấy cuộn. Những người sử dụng cần sa trong điều trị đau mãn tính kéo dài thường thích uống bằng miệng vì nó kéo dài hơn và họ không phải tiêu thụ thường xuyên

Đặt dưới lưỡi

Cần sa cũng có thể xâm nhập vào dòng máu khi được đặt dưới lưỡi và ngậm trong miệng; trong miệng có một số lượng lớn các mạch máu có thể hấp thụ cannabinoids. Thời gian khởi phát cho phương pháp tiêu thụ này tương tự như thời gian nói trên, tuy nhiên, một số nghiên cứu đã báo cáo hiệu quả khởi phát sớm hơn.

Viên nang

Thuốc cần sa, được gọi là mũ cần sa, thuốc cỏ dại hay dầu Simpson Simpson (RSO) được sản xuất bằng cách làm đầy viên nang thuốc bằng dầu cần sa, sáp hoặc chiết xuất khác.

Thuốc xịt 

Đây là những chất lỏng được truyền bằng tetrahydrocannabinol (THC) hoặc cannabinol (CBD), các thành phần tâm sinh lý của cần sa, và được phun dưới lưỡi để hấp thụ nhanh. Chúng thường được sử dụng bởi các bệnh nhân cần sa y tế. Mọi người sử dụng chúng vì chúng thuận tiện và rời rạc. Thuốc xịt có nhiều hương vị khác nhau và có thể được sử dụng để bọc giấy cuộn, khớp, cùn, ống, v.v.

tìm hiểu về ma túy - cần sa dạng xịt
tìm hiểu về ma túy – cần sa dạng xịt

Cần sa và ảnh hưởng đối với cơ thể

♠ Tác động của cần sa đối với não bộ:
    + Về lâu dài, cần sa ảnh hưởng trực tiếp đến não – cụ thể là các phần của não chịu trách nhiệm về trí nhớ, học tập, sự chú ý, ra quyết định, phối hợp, cảm xúc và thời gian phản ứng. Hàm lượng THC càng cao, tác động lên não càng mạnh.
    + Nghiên cứu cho thấy cannabinoids tổng hợp ảnh hưởng đến não mạnh mẽ hơn nhiều so với cần sa, có khả năng đe dọa đến tính mạng bao gồm buồn nôn, lo lắng, hoang tưởng, sưng não, ảo giác, gây hấn, đau tim và đau ngực.

♠ Cần sa ảnh hưởng đến thần kinh: Một số nghiên cứu đã liên kết sử dụng cần sa để tăng nguy cơ rối loạn tâm thần, bao gồm rối loạn tâm thần (tâm thần phân liệt), trầm cảm, lo lắng, rối loạn sử dụng chất và lệ thuộc vào cần sa.

♠ Cần sa với tim mạch: Sử dụng cần sa làm cho tim đập nhanh hơn. Sau khi hít khói cần sa, nhịp tim của một người tăng tốc, đường thở thư giãn và mở rộng, và các mạch máu trong mắt mở rộng, khiến mắt trông đỏ ngầu. Nhịp tim thông thường 70 đến 80 nhịp mỗi phút. Có thể tăng từ 20 đến 50 nhịp mỗi phút hoặc thậm chí có thể tăng gấp đôi trong một số trường hợp. Nó cũng có thể dẫn đến tăng nguy cơ đột quỵ và bệnh tim.
♠ Cần sa với phổi: tùy thuộc vào cách tiêu thụ. Khi hút, cần sa có thể gây hại cho các mô phổi, gây ra sẹo và tổn thương cho các mạch máu nhỏ, gây nguy cơ viêm phế quản, ho và đờm nhiều hơn. Cần sa hút thuốc cũng có thể làm giảm phản ứng miễn dịch của hệ hô hấp, làm tăng khả năng người mắc bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, bao gồm cả viêm pit.
Cần sa hun khói cung cấp THC và các cannabinoids khác cho cơ thể, nhưng nó cũng cung cấp các chất có hại cho người dùng và những người ở gần, bao gồm nhiều chất tương tự có trong khói thuốc lá, có hại cho phổi và hệ thống tim mạch.

♠ Cần sa cũng tác động tới huyết áp, làm cho nó bất ngờ tăng hoặc hạ đột ngột. 

♠ Cần sa và tính di truyền: Nghiên cứu gần đây cho thấy hút cần sa có hiệu lực cao mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần gần gấp năm lần so với những người chưa bao giờ sử dụng cần sa. Người ta tìm ra mối liên quan đến mối liên hệ giữa sử dụng cần sa và rối loạn tâm thần ở những người có gen di truyền từ trước hoặc dễ bị tổn thương khác.
♠ Cẩn trọng đối với thức ăn, nước uống có chứa cần sa: Mất từ 30 phút đến 2 giờ để có hiệu lực. Vì vậy, một số người ăn quá nhiều, có thể dẫn đến ngộ độc và / hoặc chấn thương nghiêm trọng. Nguyên nhân gây ra hiệu ứng kéo dài hơn dự kiến tùy thuộc vào số lượng, thực phẩm cuối cùng ăn và thuốc hoặc rượu được sử dụng cùng một lúc.
Lượng THC, thành phần hoạt chất trong cần sa, rất khó đo lường và thường không được biết đến trong các sản phẩm ăn được. Nhiều người dùng có thể bị mất cảnh giác bởi sức mạnh và tác dụng lâu dài của cần sa.

♠ Sử dụng cần sa, đặc biệt là thường xuyên với liều lượng cao, có thể gây mất phương hướng, và đôi khi gây ra những suy nghĩ khó chịu hoặc cảm giác lo lắng và hoang tưởng. Người sử dụng cần sa có nhiều khả năng mắc chứng rối loạn tâm thần tạm thời (không biết đâu là thật, ảo giác và hoang tưởng) và rối loạn tâm thần kéo dài, bao gồm tâm thần phân liệt (một loại bệnh tâm thần mà mọi người có thể nhìn thấy hoặc nghe thấy những điều không thực sự ở đó).
Những người sử dụng cần sa thường xuyên ghi nhận sự khó chịu, khó ngủ, giảm cảm giác thèm ăn, bồn chồn và / hoặc các dạng khó chịu khác nhau lên đến đỉnh điểm trong tuần đầu tiên sau khi bỏ thuốc và kéo dài đến 2 tuần sau đó.

♠ Sử dụng cần sa quá liều gây tử vong là không thể, nhưng điều đó không có nghĩa là cần sa là vô hại. Các dấu hiệu sử dụng quá nhiều cần sa tương tự như tác dụng điển hình của việc sử dụng cần sa nhưng nghiêm trọng hơn. Những dấu hiệu này có thể bao gồm nhầm lẫn cực độ, lo lắng, hoang tưởng, hoảng loạn, nhịp tim nhanh, ảo tưởng hoặc ảo giác, tăng huyết áp, và buồn nôn hoặc nôn mửa nghiêm trọng. Trong một số trường hợp, những phản ứng này có thể dẫn đến thương tích không chủ ý như tai nạn xe cơ giới, ngã hoặc ngộ độc.
♠ Nguy hiểm của cần sa còn nằm nhiều trong khói khi hút, nung nóng. Khói từ cần sa chứa nhiều chất độc, chất kích thích và chất gây ung thư giống như khói thuốc lá. Hút cần sa có thể dẫn đến nguy cơ viêm phế quản, ho và đờm nhiều hơn, các tác động tiêu cực như lo lắng, hoang tưởng và, trong một số trường hợp hiếm hoi, một phản ứng tâm lý cực đoan (ví dụ ảo tưởng, ảo giác, nói không liên tục và kích động).
♠ Cần sa đối với phụ nữ mang thai: cân nặng khi sinh thấp, sinh non, sẩy thai, thai chết lưu. Sử dụng cần sa trong khi mang thai và cho con bú sẽ ảnh hưởng lâu dài đến đứa trẻ trong phát triển thể trạng và tâm sinh lý.

♠ Cần sa đối với trẻ nhỏ và thanh thiếu niên: Suy giảm trí nhớ, khả năng tập trung kém và chỉ số IQ thấp, tăng nguy cơ mắc một dạng ung thư tinh hoàn (chủ yếu tấn công nam giới trưởng thành. Sử dụng cần sa cũng có liên quan đến trầm cảm và lo lắng, và tự tử ở thanh thiếu niên.
♠ Cần sa đối với nghề lái xe: Cần sa làm suy yếu đáng kể khả năng phán đoán, phối hợp vận động và thời gian phản ứng, và các nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ trực tiếp giữa nồng độ THC trong máu và khả năng lái xe bị suy yếu.
♠ Sử dụng rượu và cần sa cùng một lúc có khả năng dẫn đến suy yếu nhiều hơn so với khi sử dụng một mình. Sử dụng cần sa và thuốc lá cùng một lúc cũng có thể dẫn đến tăng tiếp xúc với các hóa chất độc hại, gây nguy cơ lớn.


Thuốc lắc (MDMA/ECTASY)

Thuốc lắc (MDMA, 3,4 methylenedioxymethamphetamine) là một loại thuốc thần kinh tổng hợp, có tác dụng hóa học tương tự như methamphetamine kích thích và mescaline gây ảo giác. Nó là một loại thuốc bất hợp pháp tạo ra một hiệu ứng tràn đầy năng lượng, cũng như sự biến dạng về thời gian và nhận thức, tăng cường sự thích thú từ những trải nghiệm xúc giác.

tìm hiểu về ma túy - thuốc lắc
tìm hiểu về ma túy – thuốc lắc

Mọi người sử dụng thuốc lắc như thế nào

+ MDMA rất phổ biến trong các bữa tiệc khiêu vũ thâu đêm, vũ trường, quán bar, lễ sinh nhật …
+ MDMA thường xuất hiện dưới dạng viên nang hoặc viên nén, mặc dù một số người nuốt nó ở dạng lỏng hoặc khịt mũi ở dạng bột. Đôi khi thuốc lắc cũng được dùng bằng cách tiêm vào tĩnh mạch.
+ Tác dụng của thuốc lắc thay đổi tùy theo từng người sử dụng, liều lượng, độ tinh khiết và môi trường sử dụng. Kéo dài khoảng 3 đến 6 giờ, mặc dù nhiều người dùng ưa thích dùng liều thứ hai vì tác dụng của liều đầu tiên chưa thật sự đủ.
MDMA có thể tạo ra các hiệu ứng kích thích như tăng cảm giác khoái cảm và tự tin và tăng năng lượng. Hiệu ứng ảo giác của nó bao gồm cảm giác yên bình, chấp nhận và đồng cảm.

 

Điều kiện tiên quyết để sử dụng thuốc lắc an toàn :

+ Không có tiển sử bệnh lý dị ứng & ko an toàn với thuốc lắc
+ Không sử dụng đồng thời thuốc & các chất dẫn truyền khác không tương thích với MDMA.
+ Kiểm tra thuốc lắc/MDMA bằng các công cụ kiểm tra thuốc an toàn đảm bảo đúng MDMA tinh khiết và thuốc mua là từ nguồn tin cậy.
+ Nắm rõ hướng dẫn liều lượng: cân nặng của người dung tính bằng kg + 50 = tổng liều tính theo mg cho 1 đêm. Các tác động tích cực được tối đa hóa trong khoảng 81-100 mg.
+ Đảm bảo sẽ uống 250-500 ml / giờ (1-2 cốc), chắc chắn không quá 500 ml / giờ (2 cốc) và lý tưởng là nước điện giải thể thao Gatorade thay vì nước trắng.
+ Cam kết sử dụng MDMA trong môi trường an toàn, mát mẻ và tích cực.

Sử dụng kết hợp thuốc lắc với các chất khác

+ Mọi người đôi khi trộn MDMA với các chất khác để trải nghiệm cảm giác khác nhau hoặc để bù đắp các hiệu ứng. Chẳng hạn, một người có thể sử dụng thuốc ngủ để giúp họ thư giãn và nghỉ ngơi sau khi sử dụng MDMA. Nhưng kết hợp các chất là rủi ro vì chúng có thể hành động theo những cách bất ngờ. Sau đây là một số kết hợp phổ biến và kết quả có thể.

+ Các loại thuốc khác về mặt hóa học tương tự như thuốc lắc, như MDA (methylenedioxyamphetamine, thuốc mẹ của thuốc lắc) và PMA (paramethoxyamphetamine, liên quan đến tử vong ở Mỹ và Úc) đôi khi được bán dưới dạng thuốc lắc. Những loại thuốc này có thể gây độc thần kinh hoặc tạo thêm rủi ro sức khỏe cho người dùng.

+ Viên thuốc lắc có thể bị nhiễm thêm các chất khác ngoài MDMA, như: ephedrine (một chất kích thích); dextromethorphan (DXM, thuốc giảm ho có tác dụng giống như PCP ở liều cao); ketamine (một loại thuốc gây mê được sử dụng chủ yếu bởi bác sĩ thú y cũng có tác dụng giống như PCP); cafein; cocaine; và methamphetamine.

+ Rượu và thuốc trầm cảm khác: Đây là những chất làm chậm trái tim của chúng ta và làm cho chúng ta cảm thấy thư giãn hơn. Trầm cảm ảnh hưởng đến sự phối hợp và các kỹ năng khác cần thiết để lái xe an toàn. Kết hợp MDMA với người trầm cảm có thể che mờ phán đoán của chúng ta về mức độ say của chúng ta, có khả năng dẫn đến các quyết định rủi ro như lái xe.

+ Chất kích thích: Đây là những chất như methamphetamine làm tăng nhịp tim, hơi thở, suy nghĩ và hành động của chúng ta. Vì MDMA cũng là một chất kích thích, sử dụng nó với các loại thuốc khác cùng loại có thể tăng cường các tác dụng này và tăng cơ hội gặp phải các vấn đề như nhịp tim nhanh và kích động.

+ Cần sa: Kết hợp cần sa với MDMA có thể che dấu tác dụng của từng loại thuốc. Điều này có thể làm giảm sự kiểm soát đối với hành vi của người dùng có thể gặp rủi ro.

+ Thuốc: Khi thuốc theo toa hoặc thuốc không kê đơn được sử dụng với MDMA, có khả năng gây ra tác dụng phụ tiêu cực hoặc cho các lợi ích thuốc để loại bỏ. Dành thời gian để đọc nhãn thuốc hoặc tư vấn với một chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể làm giảm những rủi ro này.

Tác dụng tiêu cực của thuốc lắc

MDMA không phải là một loại thuốc vô hại, có những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng nó, bao gồm tăng thân nhiệt, ảnh hưởng tim mạch, suy giảm khả năng tinh thần, hành vi nguy hiểm và quá liều.
  + Sau khi sử dụng thuốc vừa phải trong một tuần, các tác động tâm lý và thể chất do rút thuốc có thể bao gồm: cáu gắt, phiền muộn, trầm cảm và bốc đồng, căng cơ, mất ngủ, mất chú ý, buồn nôn và chán ăn …
+ Tác dụng của việc sử dụng Ecstasy có thể bao gồm nghiến răng không tự nguyện, mất sự ức chế, buồn nôn, mờ mắt, co giật, ớn lạnh và / hoặc đổ mồ hôi.
Việc sử dụng lặp đi lặp lại Ecstasy có thể làm hỏng các tế bào sản xuất serotonin hóa học trong não, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh tâm trạng, sự thèm ăn, học tập và trí nhớ. Người dùng phải đối mặt với nhiều rủi ro giống như người dùng các chất kích thích khác như cocaine và amphetamine. Gây ra các triệu chứng tăng huyết áp và nhịp tim.
+ Tăng thân nhiệt: Thuốc lắc hạn chế khả năng điều chỉnh nhiệt độ của cơ thể, vì vậy khi bạn tham gia hoạt động mạnh mẽ trong thời gian dài, bạn có nguy cơ mắc chứng tăng thân nhiệt cao hơn, tình trạng nhiệt độ cơ thể của bạn trở nên quá cao. Rất may, tăng thân nhiệt rất hiếm, nhưng nó cần được điều trị ngay lập tức vì nó có thể nhanh chóng dẫn đến suy nhược cơ bắp, sau đó có thể dẫn đến suy thận và rối loạn tim, thậm chí tử vong.
+ Hạ natri máu. Nói chung là do uống quá nhiều nước. MDMA gây giữ nước. Nhảy múa trên không trong môi trường nóng gây mất nước. Bù đắp quá mức bằng cách uống quá nhiều nước có thể gây tử vong.
+ Ngoài ra, có bằng chứng cho thấy những người bị phát ban trông giống như mụn trứng cá sau khi sử dụng thuốc này có thể có nguy cơ bị tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm tổn thương gan, nếu họ tiếp tục sử dụng thuốc
+ Ảnh hưởng tim mạch: Nếu bạn sử dụng nó thường xuyên, dùng MDMA có thể khiến tim bạn ngừng hoạt động hiệu quả, một tác động đặc biệt nguy hiểm nếu bạn cũng tham gia vào hoạt động vất vả.
+ Khả năng tâm thần bị suy giảm: Trong những giờ sau khi bạn uống thuốc lắc, có những suy giảm đáng kể về khả năng tinh thần của bạn như xử lý thông tin, trí nhớ, sự tập trung và khả năng phán đoán chuyển động của bạn. Điều này nhấn mạnh mức độ nguy hiểm khi tham gia vào các hoạt động như lái xe trong khi bạn chịu ảnh hưởng của MDMA.
Ảnh hưởng tâm lý có thể bao gồm nhầm lẫn, trầm cảm, khó ngủ, thèm thuốc và lo lắng nghiêm trọng. Những vấn đề này có thể xảy ra trong và trong vài ngày hoặc vài tuần sau khi uống thuốc lắc.
+ Hành vi nguy hiểm: Vì MDMA làm giảm bớt sự ức chế của bạn và gây ra cảm giác tin tưởng và ấm áp cảm xúc, bạn có nhiều khả năng tham gia vào các hoạt động tình dục không an toàn có thể dẫn đến (hoặc cho) nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) như viêm gan hoặc HIV. Nguy cơ của bạn khi sử dụng ma túy không an toàn, chẳng hạn như tự tiêm kim bẩn, cũng cao hơn.
+ Đối với phụ nữ mang thai, thuốc lắc có thể dẫn đến tăng thân nhiệt (nhiệt độ cơ thể tăng cao) và tác dụng gây chán ăn Cả hai điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi đang phát triển.
Khi phụ nữ mang thai sử dụng các loại thuốc như thuốc lắc, nó có thể gây hại nghiêm trọng cho em bé của họ, bao gồm: Sinh non, các vấn đề phát triển bao gồm tăng trưởng chậm, các vấn đề về tim mạch (ví dụ, các vấn đề về tim, tăng nguy cơ đột quỵ).


KETAMINE

Ketamine (tên thương hiệu Ketar ) là một loại thuốc gây mê phân ly (chặn nhận thức cảm giác) đã có sẵn theo toa ở Mỹ từ những năm 1970 cho người và thú y. Thuốc phân ly có thể dẫn đến sự biến dạng của các điểm tham quan, màu sắc, âm thanh, bản thân và môi trường của một người. Các loại thuốc phân ly khác bao gồm phencyclidine (PCP) và dextromethorphan (DXM).
Tuy nhiên, nó phổ biến hơn như một loại thuốc giải trí ở Anh và Đông Nam Á so với ở Mỹ.

tìm hiểu về ma túy Ke
tìm hiểu về ma túy Ke

Cảm giác như thế nào khi dùng ketamine?

Ngoài việc là thuốc an thần, Ketamine còn có tính chất phân ly, điều đó có nghĩa là nó có thể khiến bạn cảm thấy bị ngắt kết nối với cơ thể và thế giới.
+ Ở liều thấp : đây có thể là một trải nghiệm thú vị, khiến ai đó cảm thấy “hòa mình với vũ trụ”, Ketamine có thể gây tê, cơ thể ngứa ran (đặc biệt là ở tay, chân và đầu), cử động giật, thở nhanh và chóng mặt. Những hiệu ứng này thường đi kèm với hưng phấn, thư giãn, cảm giác không trọng lượng, hình ảnh nhẹ và mờ hoặc nhìn mờ. Người dùng cũng có thể trải nghiệm những suy nghĩ nội tâm , tăng khả năng cảm thụ âm nhạc .
+ Nhưng với liều cao hơn : bạn có thể trải nghiệm sự ghê tởm, hoặc tách rời khỏi thực tế, điều này có thể khiến bạn đưa ra quyết định nguy hiểm,
+ Ở liều cao cấp K-lỗ-gan : nhận thức về môi trường vật lý và cơ thể tan biến. Trải nghiệm ngoài cơ thể hoặc cận tử là phổ biến, cũng như những trải nghiệm sống động bên trong và cảm giác bị bóp méo về thời gian. Liều lượng lỗ K là khoảng 0,75 mg / lb được tiêm hoặc 1 mg / lb được tiêm vào. Một số tác động tiêu cực bao gồm hoang tưởng, buồn nôn, mất trí nhớ và cá nhân hóa một số trong đó có thể tồn tại sau khi sử dụng thường xuyên.  Những người khác thấy rằng thính giác của họ trở nên gay gắt hơn, điều này có thể giải thích tại sao con chó của bạn tôi làm tôi hoảng sợ đến vậy. Khi chúng tôi sử dụng nó trên lâm  , nếu ai đó đang ở trong một căn phòng và có tiếng nói thì thầm ở một phòng khác hoặc phía bên kia của tòa nhà , bạn có thể nghe rõ họ.

Những rủi ro của việc dùng ketamine là gì?

Mặc dù ketamine được coi là an toàn trong môi trường y tế, nhưng đây không phải là trường hợp khi bạn sử dụng nó để giải trí.
Ketamine rất khó dùng đúng liều do còn tùy vò thể trạng , bệnh lý , sức khỏe mỗi người nên khi bạn dùng quá liều, bạn có thể gặp các tác dụng phụ như
+ bao gồm ức chế hệ thần kinh trung ương có thể dẫn đến ngừng tim.
+ Bạn cũng có thể bị huyết áp cao, khiến bạn có nguy cơ bị đau tim, đột quỵ, suy tim, phình động mạch
+ suy thận, giảm thị lực và mất trí nhớ
+ có thể gây tử vong
Một sự khác biệt khác giữa việc sử dụng ketamine giải trí và y tế là ở các cơ sở y tế, nó được tiêm tĩnh mạch để nó xuất hiện dần dần.
Khịt mũi hoặc ngậm bằng miệng một cách giải trí, tất cả đánh vào bạn cùng một lúc. Cũng có khả năng ketamine thu được bên ngoài các phòng khám y tế có thể được tẩm với các loại thuốc khác.
Sau khi lạm dụng ketamine trong một thời gian dài, một số bệnh viêm bàng quang ketamine – tổn thương bàng quang có thể dẫn đến đau và đi tiểu thường xuyên, Hương Chloe , DJ tại 1 hộp đêm ( xin phép được dấu tên) , chia sẻ với tôi. Nếu bạn thực sự lạm dụng nó, bạn có thể bị rối loạn tâm thần giống như tâm thần phân liệt, ngay cả sau khi bạn ngừng sử dụng ketamine.

Vậy nên dùng ketamine như thế nào?

Vì tác dụng của ketamine rất phụ thuộc vào liều, bạn muốn cẩn thận về việc bạn dùng bao nhiêu. Khuyến nghị không vượt vượt quá microdose, khoảng 0,02 mg dưới lưỡi hoặc 0,5 mg bằng miệng. Ít nhất, hãy duy trì dưới 0,7 mg / kg trọng lượng cơ thể của bạn dưới lưỡi và 1,4 mg / kg uống

An toàn và độc tính

Ketamine dường như tương đối an toàn cho người dùng không thường xuyên. Tuy nhiên, việc sử dụng thường xuyên mang đến nguy cơ thoái hóa thần kinh lâu dài. Tiếp xúc tiêm tĩnh mạch kéo dài với thuốc (hơn 9 hoặc 24 giờ) đã dẫn đến chết tế bào não ở khỉ rhesus

     Việc sử dụng thường xuyên ở mọi người cũng dẫn đến các dấu hiệu suy giảm nhận thức ảnh hưởng đến suy nghĩ và trí nhớ .
Đau bàng quang là một ghi nhận khá phổ biến khác của những người sử dụng thường xuyên , thường đi kèm trong thời gian dài do giảm thể tích bàng quang, không tự chủ, đi qua máu trong nước tiểu và viêm bàng quang , trong một số trường hợp cần phải phẫu thuật cắt bỏ bàng quang .
Chỉ có 12 trường hợp tử vong liên quan đến ketamine được ghi nhận trên toàn thế giới từ năm 1987 đến năm 2000 và chỉ có ba trường hợp liên quan đến ketamine đơn thuần. Nguyên nhân tử vong trong mỗi trường hợp là do quá liều bằng cách tiêm. Thường xuyên hơn, các trường hợp tử vong liên quan đến ketamine là do tương tác với các loại thuốc khác, dẫn đến suy hô hấp và ngừng tim

Tương tác với các chất khác

                Tương tác tích cực:
• Psilocybin: Nhiều người dùng đã báo cáo giai thoại rằng việc trộn psilocybin và ketamine mang lại hiệu quả tốt nhất của cả hai loại thuốc. Trải nghiệm cơ thể là phổ biến, và ketamine giúp làm giảm bất kỳ lo lắng và mang lại cảm giác hưng phấn.
• LSD(thuốc gây ảo giác): LSD làm tăng khả năng của ketamine trong việc tạo ra các trải nghiệm cơ thể, đây có thể là một phần quan trọng trong hiệu quả điều trị của họ. Một số người dùng cũng đã báo cáo rằng một lượng nhỏ ketamine có thể giúp cải thiện các khía cạnh của trải nghiệm LSD.
               Tương tác trung tính:
• Cần sa: Không có vấn đề báo cáo với sự kết hợp này. Ketamine có thể khuếch đại một số hiệu ứng cần sa, đáng chú ý nhất là hình ảnh mắt nhắm.
• Caffeine : Không có vấn đề được biết đến.
               Tương tác tiêu cực:
• Opioids
• Thuốc kháng histamine
• Barbiturat (Amytal, Butisol, Nembutal)
• Zolpidem (Ambien)
• Các thuốc giảm đau (Xanax, Klonopin, Ativan)

 


SỬ DỤNG MA TÚY – TÍCH CỰC

Ranh giới giữa thuốc giải trí và thuốc được bác sĩ phê duyệt chưa bao giờ rõ ràng. Chỉ riêng trong thập kỷ qua, không thiếu các nghiên cứu về lợi ích thuốc tiềm năng mà một số loại thuốc bất hợp pháp có thể mang lại.
Dưới đây là các loại ma túy bất hợp pháp được biết đến hoặc đã được điều tra vì lợi ích y tế, ví dụ như điều trị các bệnh tâm thần khó điều trị và các rối loạn mãn tính.

COCAINE

– Từ trước Công nguyên, con người đã nhận ra tác dụng chữa bệnh hiệu quả của cây thuốc phiện, làm cho tinh thần sảng khoái và chống mệt mỏi bằng cách ăn hoặc hút một số loại cây cỏ có chứa chất gây nghiện như cây thuốc phiện ở Châu Á, cây Cô ca ở Nam Mỹ và cây Cần sa, cây Khát ở Châu Phi.
– Vào năm 1855 lần đầu tiên Gedecke đã chiết xuất cocain từ lá cây Coca. Đến năm 1880 Arnep chứng minh cocain có tác dụng gây tê tại chỗ. Cũng vào thời gian này bác sỹ tâm thần người Do Thái là Dicmun Frơt dùng cocain để chữa bệnh nghiện thuốc phiện và morphin. Năm 1884, người ta còn nhận thấy chất cocain có tác dụng tăng lực, giảm đau, có công hiệu trong các bệnh viêm phổi, hen suyễn, đau thần kinh liên sườn, đau răng.
– Cocaine cũng được sử dụng như một phương pháp điều trị bệnh ruột kích thích và các rối loạn chức năng đường ruột khác. Tuy nhiên, nổi tiếng nhất là khả năng giảm đau đầu của cocaine; nó có thể được bác sĩ kê toa để sử dụng làm thuốc gây tê cục bộ trong một số trường hợp phẫu thuật mắt, tai hoặc họng.
các loại ma túy - Cocaine
tìm hiểu về ma túy – Cocaine

Morphine/Heroin

– Con người đã trồng cây thuốc phiện và sử dụng nhựa cây từ hoa của nó như một loại thuốc chữa bệnh và giải trí kể từ ít nhất là thời của người Sumer cổ đại 5500 năm trước ở Iraq ngày nay được gọi là Iraq. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã quen thuộc với thuốc phiện như một loại thuốc giảm đau và nó là một sản phẩm phổ biến được vận chuyển dọc theo Con đường tơ lụa từ châu Á đến các thị trường ở châu Âu thời trung cổ.
– Hiện nay, cây thuốc phiện được sử dụng làm dược liệu trong Đông y và Tây y, vỏ anh túc có tính bình, vị chua chát, độc, chứa morphin, codein, nacotin, papaverin … có tác dụng giảm đau, giảm ho, ngừng ỉa chảy, dùng chữa các bệnh ho hen lâu ngày, đau sườn, đau bụng, di tinh, hoạt tinh bởi thận hư, đau nhức xương khớp … nhựa của cây anh túc làm thuốc phiện chứa 10% morphin dùng giải trừ chuột rút và ức chế cơ tim, co thắt cơ tim động mạch.
– Khi morphine tinh khiết lần đầu tiên được chiết xuất từ thuốc phiện vào đầu những năm 1800, nó là một trong những loại thuốc giảm đau mạnh nhất được biết đến với con người.
các loại ma túy - Morphine
tìm hiểu về ma túy – Morphine
– Vào tháng 8 năm 1897, Felix Hoffmann, nhà hóa học người Đức, người đầu tiên tạo ra aspirin cho công ty dược phẩm của Bayer, đã tổng hợp heroin trong nỗ lực chuyển morphine thành một loại thuốc giảm đau gây nghiện khác là codein. Loại thuốc mới này được phát hiện có tác dụng mạnh gấp đôi so với morphine. Nó đã đượ các bác sĩ dùng như thuốc giảm ho và giảm đau cho các bệnh hô hấp đau đớn như viêm phổi và lao, sinh con, chấn thương nghiêm trọng, Kkểm soát các rối loạn tâm thần nhất định.
– Năm 1894, nhà khoa học Đức Dresser nhận thấy heroin có tác dụng đặc hiệu trị các bệnh về đường hô hấp như viêm phế quản, hen suyễn, ho lao.
– Một nghiên cứu tại Trường Y khoa Hannover đã phát hiện ra những người nghiện chất dạng thuốc phiện – thường là những người nghiện thuốc giảm đau như Vicodin, Percocet, Oxyc thôi hoặc Demerol – có thể loại bỏ nghiện thuốc phiện tốt hơn sau khi uống một lượng nhỏ heroin

Nấm ma thuật

‘Nấm ma thuật chứa một chất gây ảo giác ảo giác gọi là psilocybin – khi được tiêu thụ với số lượng nhỏ – mang lại cho mọi người tầm nhìn giống như kính vạn hoa. Nhưng các nghiên cứu cho thấy nấm ma thuật có thể là một phương thuốc hiệu quả chống lại chứng đau đầu mãn tính , rối loạn ám ảnh cưỡng chế và thậm chí trầm cảm và lo lắng.


Ketamine

Ketamine được sử dụng lâm sàng từ năm 1970. Đây là một loại thuốc gây mê tĩnh mạch (IV) duy nhất tạo ra một phổ rộng các tác dụng dược lý bao gồm an thần, catalepsy, giảm đau soma, giãn phế quản và kích thích hệ thần kinh giao cảm.
– Tương tác thụ thể NMDA với ketamine đóng vai trò trong tác dụng hạ huyết áp do opioid gây ra của ketamine
– Liều ketamine dưới da thông qua ức chế thụ thể NMDA có tác dụng giảm đau opioid mạnh
– Ketamine ức chế khối u yếu tố hoại tử-alpha và gen interleukin-6 biểu thức trong các đại thực bào.
– Ketamine, ngăn chặn sự khởi phát của hoạt động NO synthase và biểu hiện protein bằng endotoxin, có tác dụng chống viêm bảo vệ chống lại quá trình nhiễm trùng huyết. Tác dụng chống viêm của nó có thể là nguyên nhân gây ra tác dụng hạ huyết áp.
– Các hiệu ứng postdrug hạ lưu và hạ lưu như hoạt động gây ra sự gia tăng kết nối synap cấu trúc dẫn đến tác dụng chống trầm cảm kéo dài của ketamine.
– Một số nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ketamine không chỉ bảo vệ chống lại cơn hen, nó cũng làm giảm co thắt phế quản ở bệnh nhân suy hô hấp trước khi gây mê.
– Y học tiền sử và chiến trường: Ketamine là thuốc gây mê được lựa chọn khi nguồn cung cấp oxy và thiết bị theo dõi và dùng một lần bị hạn chế
– Đối với bệnh nhân đặc biệt là trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh, Ketamine là thuốc gây mê được lựa chọn trong những trường hợp này do tác dụng tim mạch có lợi của nó làm tăng sức cản mạch máu toàn thân.
– Bỏng: Ketamine đã được sử dụng rộng rãi để giảm đau khi thay băng, trong quá trình cắt bỏ và ghép và để an thần. Nó có vai trò chính trong việc gây tê lặp đi lặp lại đối với vết bỏng . Không giống như các tác nhân khác, ketamin bảo tồn đường hô hấp và chức năng hô hấp tự phát bên cạnh việc cung cấp thuốc an thần tốt . ketamine đã được sử dụng như một thuốc giảm đau và an thần cho các thủ tục chăm sóc vết thương ở trẻ em bị bỏng và cung cấp cải thiện giảm đau và an thần.
– Ketamine hydrochloride (hay còn gọi là Kiêu đặc biệt hay Kiết) thuộc về một nhóm thuốc gọi là thuốc gây mê phân ly có thể phân biệt nhận thức khỏi cảm giác. Các loại thuốc khác trong danh mục này bao gồm PCP, DXM và oxit nitơ. Ngày nay vẫn được sử dụng để gây mê toàn thân ở trẻ sơ sinh, người có sức khỏe kém và bác sĩ thú y.
– Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng truyền ketamine có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh trầm cảm và thuốc đôi khi được kê toa ngoài nhãn cho mục đích này.
các loại ma túy - Ketamine
tìm hiểu về ma túy – Ketamine

MDMA (Thuốc lắc)

Điều kiện tiên quyết để sử dụng thuốc lắc an toàn:
– Kiểm tra thuốc lắc/MDMA bằng các công cụ kiểm tra thuốc an toàn đảm bảo đúng MDMA tinh khiết và thuốc mua là từ nguồn tin cậy.
– Không có tiển sử bệnh lý dị ứng & ko an toàn với thuốc lắc
– Không sử dụng đồng thời thuốc & các chất dẫn truyền khác không tương thích với MDMA.
– Nắm rõ hướng dẫn liều lượng: cân nặng của người dung tính bằng kg + 50 = tổng liều tính theo mg cho 1 đêm. Các tác động tích cực được tối đa hóa trong khoảng 81-100 mg. Đảm bảo sẽ uống 250-500 ml / giờ (1-2 cốc), chắc chắn không quá 500 ml / giờ (2 cốc) và lý tưởng là nước điện giải thể thao Gatorade thay vì nước trắng.
– Cam kết sử dụng MDMA trong môi trường an toàn, mát mẻ và tích cực.
– Nếu được sử dụng đúng cách, thuốc nhóm được gọi là MDMA có thể giúp những người bị PTSD (rối loạn căng thẳng sau chấn thương), lo lắng và các bệnh nghiêm trọng khác. Sau khi phân tích tâm lý trị liệu được tiến hành với MDMA, các nhà nghiên cứu gần đây đã kết luận loại thuốc này đã thành công trong điều trị PTSD ở phần lớn những người tham gia.
MDMA được biết là ngăn chặn hoạt động trong amygdala, một phần của bộ não chịu trách nhiệm cho sự sợ hãi và lo lắng. Giống như điều trị các rối loạn khác, khả năng MDMA mang đến cảm giác bình tĩnh và tin tưởng có thể hữu ích trong môi trường trị liệu cho những người đối phó với trầm cảm và các bệnh đi kèm thông thường khác của PTSD.
các loại ma túy - MDMA
tìm hiểu về ma túy – MDMA

LSD (Lysergic acid diethylamide ) – Thuốc gây ảo giác

Còn được gọi là axit, chất gây ảo giác tổng hợp này cung cấp các hiệu ứng ảo giác tương tự trên cơ thể như nấm ma thuật. Nó thường xuất hiện dưới dạng giấy thấm, giống như ở trên, được tiêu thụ bằng miệng. Tuy nhiên, thuốc, có thể là một điều trị khả thi và hiệu quả cho chứng nghiện rượu . Được công bố trong một nghiên cứu của Na Uy vào năm 2012, LSD giúp người nghiện rượu khỏi tái nghiện trong quá trình phục hồi.

các loại ma túy LSD
tìm hiểu về ma túy LSD

Cần Sa

Cần sa y tế là một loại thuốc rất hiệu quả được sử dụng bởi các bệnh nhân trên toàn cầu để điều trị và làm giảm các triệu chứng của nhiều tình trạng y tế nghiêm trọng không đáp ứng với các can thiệp truyền thống. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng cần sa có đặc tính trị liệu không thể sao chép bằng bất kỳ loại thuốc nào hiện được kê đơn, và nó gây ra tác dụng phụ ít nghiêm trọng hơn nhiều so với nhiều loại dược phẩm thường được kê đơn và thuốc không kê đơn.
– Cần sa có chứa các thành phần hoạt động được gọi là cannabinoids. Cannabinoid có hoạt tính mạnh nhất trong cần sa là delta-9-THC . Hai chất tetrahydrocannabinol (THC) và cannabidiol (CBD) là các thành phần của thuốc Sativex dùng làm giảm cơn đau co thắt cơ trong bệnh đa xơ cứng.

 

tìm hiểu về ma túy - cần sa
tìm hiểu về ma túy – cần sa

Đối với cần sa y tế, điều quan trọng là các tác dụng khác nhau của cần sa có thể được tách ra. Dưới đây là một số hợp chất được tìm thấy trong cần sa và tác dụng của chúng:
+CBC – Điều này gây ra một ảnh hưởng an thần nhẹ và kết hợp với THC để giảm đau.

+CBD – Có lẽ là hợp chất quan trọng nhất trong cần sa cho các mục đích y tế, CBD làm giảm buồn nôn và lo lắng, và nó làm giảm viêm và tần suất và mức độ nghiêm trọng của co giật.
+CBN – Hợp chất này rất hữu ích trong việc giảm áp lực trong mắt liên quan đến bệnh tăng nhãn áp và tần suất động kinh. Nó cũng cung cấp một mức cao nhẹ.

+THC – THC làm giảm đau và viêm trong khi hoạt động như một chất hỗ trợ giấc ngủ và kích thích sự thèm ăn.
+THCV – Một trong những khám phá mới hơn, hợp chất này có thể giúp điều trị rối loạn chuyển hóa và tiểu đường tuýp 2.
+CBG – Với đặc tính kháng khuẩn và tác dụng an thần, hợp chất này cũng làm giảm áp lực trong mắt do bệnh tăng nhãn áp.
– Làm giảm buồn nôn và nôn: Dronabinol và nabilone là 2 loại thuốc chứa cannabinoid (Delta-9-THC) dùng đường uống được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (U.S. Food and Drug Administration – FDA) phê duyệt, dùng để điều trị buồn nôn và nôn do hóa trị ở những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp điều trị chuẩn
– Giảm đau tốt hơn so với chỉ dùng morphine.

– Kích thích sự thèm ăn ở các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS bị giảm cân có cảm giác ngon miệng hơn và ngừng giảm cân so với bệnh nhân dùng giả dược.
– Dầu bôi là chất chiết xuất dày được hấp thụ qua da và được sử dụng cho đau cơ / đau nhức.
– Ngoài ra, một số loại thuốc dựa trên cần sa khác đã được phê duyệt hoặc đang trải qua các thử nghiệm lâm sàng. Nabiximols (Sativex ® ), một loại thuốc xịt miệng hiện có sẵn ở Anh, Canada và một số nước châu Âu để điều trị chứng co cứng và đau thần kinh có thể đi kèm với bệnh đa xơ cứng, kết hợp THC với một hóa chất khác có trong cần sa gọi là cannabidiol (CBD) .


Amphetamine

– Các loại que thử ma túy / chất kích thích như amphetamine ( Adderall ) và methylphenidate (Ritalin và Concerta) được sử dụng để điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý ( ADHD )
– Amphetamine kích hoạt các thụ thể trong não và làm tăng hoạt động của một số chất dẫn truyền thần kinh, đặc biệt là norepinephrine và dopamine. Dopamine có liên quan đến niềm vui, sự di chuyển và sự chú ý.
.- Amphetamine và dẫn xuất amphetamine đã được sử dụng trong quá khứ để điều trị chứng ngủ rũ và bệnh béo phì.
– Từ những năm 1930, amphetamine đã được sử dụng để điều trị rối loạn cảm xúc, rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) và tâm thần phân liệt. Trong một số ít trường hợp, amphetamine được sử dụng cùng với thuốc chống trầm cảm tiêu chuẩn để điều trị một số loại trầm cảm không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác, đặc biệt là ở những người cũng cảm thấy mệt mỏi và thờ ơ.

Amphetamine
tìm hiểu về các loại ma túy – Amphetamine

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *