dậy thì sớm ở trẻ em

Dậy thì sớm là một hiện tượng ngày càng nhiều trẻ em Việt Nam gặp phải hiện nay. Nhiều bậc phụ huynh cảm thấy nghi ngờ và hết sức lo lắng khi thấy con mình mới 7, 8 tuổi đã xuất hiện mầm vú…. Những dấu hiệu này thường chỉ xuất hiện ở trẻ có độ tuổi 10, 12 hoặc muộn hơn. Hiện tượng này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến trẻ? Phương pháp điều trị dậy thì sớm như thế nào?… Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về khái niệm dậy thì sớm.

1. Tuổi dậy thì là gì?

(Dậy thì sớm là gì?)

tuổi dậy thì là gì ?
tuổi dậy thì là gì ?

Dậy thì là một quá trình thay đổi về thể chất và tâm lý. Quá trình này diễn ra sự thay đổi từ cơ thể của một đứa trẻ thành một cơ thể của người trưởng thành và có khả năng sinh sản hữu tính. Nó được bắt đầu bởi các tín hiệu nội tiết tố từ não đến tuyến sinh dục: tinh hoàn ở em trai  và buồng trứng ở em gái. Khi đó, các tuyến sinh dục sẽ sản xuất hormone. Để kích thích ham muốn, sự tăng trưởng thể chất, thay đổi chức năng và có sự biến đổi của não, cơ, xương, vú, máu, da, tóc và các cơ quan sinh dục, để đáp ứng lại các tín hiệu đến từ não bộ.

Sản xuất hormone ở nữ giới
Sản xuất hormone ở nữ giới

Trong nửa đầu tuổi dậy thì, chiều cao và cân nặng của trẻ sẽ tăng mạnh và sẽ được hoàn thành khi cơ thể trưởng thành được phát triển hoàn toàn. 

1.1. Dậy thì ở bé gái

Ở các bé gái, giai đoạn dậy thì thường bắt đầu từ khoảng năm 10 – 11 tuổi và sẽ kết thúc dậy thì vào khoảng năm 15-17 tuổi. Cột mốc chính của tuổi dậy thì đối với các bé gái là xuất hiện hiện tượng có kinh nguyệt và thường xảy ra trung bình ở độ tuổi 12 đến 13.

 

1.2. Dậy thì ở bé trai

Giai đoạn dậy thì của các bé trai bắt đầu vào khoảng 11-12 tuổi và kết thúc vào khoảng 16-17 tuổi. Đối với các bé trai, xuất tinh là dấu hiệu chính của tuổi dậy thì, lần xuất tinh đầu tiên thường xảy ra trung bình ở tuổi 13. 

 

Ở thế kỷ 21, độ tuổi trung bình mà trẻ em đến tuổi dậy thì thấp hơn so với thế kỷ 19, khi đó là 16 tuổi đối với con trai và 15 tuổi đối với con gái. Nguyên nhân của sự thay đổi này có thể là do bất kỳ yếu tố nào, ví dụ như  cải thiện dinh dưỡng dẫn đến tăng trưởng cơ thể nhanh chóng, tăng trọng lượng và lắng đọng chất béo, đôi khi có thể là do tiêu thụ thực phẩm, hoặc tiếp xúc với các chất gây rối loạn nội tiết như xenoestrogen, hoặc một số yếu tố môi trường khác.

2. Dậy thì sớm là gì?

Dậy thì sớm có nghĩa là tuổi dậy thì bắt đầu sớm hơn bình thường. Ở bé trai và bé gái sẽ có các biểu hiện khác nhau.

2.1 Dậy thì sớm ở bé gái

Dấu hiệu dậy thì sớm ở bé gái
Dấu hiệu dậy thì sớm ở bé gái

Dấu hiệu dậy thì sớm ở các bé gái là khi những điều sau đây xảy ra trước khi trẻ 8 tuổi: 

  • Tuyến vú bắt đầu phát triển kèm với kinh nguyệt bắt đầu từ hai đến ba năm sau đó.
  • Xuất hiện mụn trứng cá.
  • Xuất hiện lông trên cơ thể: long mu, lông dưới cánh tay,….
🔯  que thử ma túy
🔯  test nhanh ma túy
🔯  test ma túy đá
🔯  thuốc cai nghiện
🔯  que thử amphetamine hồng phiến
🔯  que thử ma túy kẹo ketamine
🔯  que thử ma túy nước bọt
🔯  que thử thuốc lắc

2.2 Dậy thì sớm ở bé trai

Dấu hiệu dậy thì sớm ở bé trai
Dấu hiệu dậy thì sớm ở bé trai

Dấu hiệu dậy thì sớm ở các bé trai là khi những điều sau đây xuất hiện trước khi bé 9 tuổi:

  • Dương vật phát triển, có hiện tượng cương cứng tự phát
  • Tinh hoàn phát triển sớm
  • Lông bắt đầu phát triển trên cơ thể: Lông mu, lông dưới cánh tay, lông mặt, ria mép,…
  • Cơ bắp phát triển: Trẻ to, cao hơn bạn bè cùng trang lứa
  • Giọng nói thay đổi: Giọng của trẻ bắt đầu trầm đi

Một số dấu hiệu khác của rối loạn xảy ra ở cả 2 giới, bao gồm:

  • Xuất hiện mụn trứng cá
  • Tâm lý thay đổi, tò mò về các vấn đề tình dục 
  • Tăng cường gây hấn
  • Trẻ có cân nặng và chiều cao vượt trội so với các bạn cùng trang lứa.
chiều cao tăng vọt
chiều cao tăng vọt

Khi có các dấu hiệu trên hãy đưa trẻ đến gặp bác sĩ chăm sóc sức khỏe để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. 

3. Phân loại dậy thì sớm

3.1 Phân loại dậy thì sớm theo căn nguyên

Phân loại dậy thì sớm, các bác sĩ  chia thành 2 loại chính dựa trên căn nguyên: 

  • Dậy thì sớm phụ thuộc vào GnRH (dậy thì sớm trung ương) 
  • Dậy thì sớm không phụ thuộc vào GnRH (dậy thì sớm ngoại vi)

Hormone GnRH (Hormone giải phóng gonadotropin – gonadotropin-releasing hormone) là loại hormone được tiết ra ở vùng dưới đồi. Nó là nội tiết tố quan trọng đối với hệ thần kinh,  tham gia vào hoạt động chức năng của nhiều cơ quan như vỏ não, vùng dưới đồi, đồi thị, tủy sống, võng mạc.

3.1.1 Dậy thì sớm phụ thuộc vào GnRH (dậy thì sớm trung ương (CPP))

Loại dậy thì sớm này xảy ra do sự trưởng thành sớm của trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục; thể này thường gặp ở trẻ nữ hơn trẻ nam. Hầu hết, nguyên nhân phổ biến ở nữ giới là vô căn, và ở nam giới, thường là một bệnh lý tiềm ẩn, nó được quy cho vô số điều kiện. Một số nguyên nhân có liên quan nhất, bao gồm:

  • Các khối u thần kinh trung ương: U thần kinh đệm thị giác, u nang màng nhện, u tế bào hình sao, u ependymoma, não úng thủy, loạn sản thị giác, khối u tuyến tùng.
  • Chấn thương thần kinh trung ương: Chấn thương đầu, chiếu xạ sọ não, bại não, nhiễm trùng (viêm màng não do lao)
  • Di truyền: Đột biến mất chức năng mã hóa gen MRF3 (ngón tay đeo nhẫn 3 của Makorin), một đột biến tăng chức năng mã hóa gen kisspeptin (KISS1) và gen thụ thể (KISSR) của nó. 
  • Hội chứng: U sợi thần kinh loại 1, hội chứng Sturge Weber, xơ cứng,…
  • Môi trường sống: Một số nguyên cứu chỉ ra rằng những đứa trẻ được người nước ngoài nhận làm con nuôi thường có xu hướng dậy thì sớm hơn. 

Tổn thương não phổ biến nhất gây CPP là u hamartoma vùng dưới đồi. Các tế bào thần kinh ngoài tử cung trong tổn thương đóng vai trò như một máy phát xung GnRH phụ. Nó có biểu hiện dậy thì sớm ở giai đoạn sơ sinh sớm nhất là 12 tháng tuổi.  Mối liên quan đặc trưng nhất là co giật dạng gel, thường không kháng thuốc. Các đặc điểm liên quan khác bao gồm các triệu chứng về nhận thức, hành vi và tâm thần. 

Tỷ lệ hiện mắc gia tăng là một đặc điểm được lưu ý ở trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế. Cơ chế chính xác vẫn chưa được xác định, nhưng có một số gợi ý là dinh dưỡng của người nước ngoài tốt hơn và những đứa trẻ tiếp xúc với các hóa chất gây rối loạn nội tiết dẫn đến giai đoạn dậy thì xảy ra sớm hơn bình thường.

 

3.1.2 Dậy thì sớm không phụ thuộc vào GnRH (hay dậy thì sớm ngoại vi (PPP))

Dậy thì sớm không phụ thuộc vào GnRH chiếm khoảng 20% ​​các trường hợp dậy thì sớm. Nó ít thường xuyên hơn so với CPP. Nguyên nhân do sản xuất quá mức hormone sinh dục (estrogen và androgen) nguồn gốc từ tuyến sinh dục hoặc tuyến thượng thận sinh dục. Một số nguyên nhân quan trọng bao gồm

  • Hormone tuyến thượng thận tăng cao, nguyên nhân do bẩm sinh.
Sơ đồ sinh tổng hợp hormone vỏ thượng thận
Sơ đồ sinh tổng hợp hormone vỏ thượng thận
  • Hội chứng McCune-Albright (CAH): Đây là một tình trạng gây ra bởi đột biến kích hoạt gen GNAS1, mã hóa tiểu đơn vị alpha của protein G. Sự hoạt hóa gen này làm tăng sự hình thành cAMP và tất cả các thụ thể phụ thuộc của nó trở nên siêu chức năng. Nó thường biểu hiện như một bộ ba của dậy thì sớm, loạn sản dạng sợi của hệ thống xương và sắc tố. Các biểu hiện nội tiết khác có thể là cường giáp, hội chứng Cushing và dư thừa hormone tăng trưởng.
Hội chứng McCune-Albright (CAH
Hội chứng McCune-Albright (CAH

 

  • Các khối u tuyến sinh dục và khối u thượng thận: Các khối u là nguyên nhân hiếm gặp của dậy thì sớm ngoại vi . Có sự gia tăng sản xuất androgen trong CAH, khối u tuyến thượng thận và khối u tế bào Leydig. Có sự gia tăng sản xuất gonadotropin màng đệm ở người (HCG) với các khối u tế bào mầm, u nguyên bào gan, khối u tuyến tùng và trung thất.
Khối u tuyến thượng thận
Khối u tuyến thượng thận

 

  • Hiện tượng nhiễm độc tinh hoàn ở trẻ nam: Nhiễm độc tố là một rối loạn ưu thế NST thường hiếm gặp và chỉ có biểu hiện lâm sàng ở nam giới. Nguyên nhân là do đột biến kích hoạt dòng mầm của gen thụ thể LH, dẫn đến việc kích hoạt tế bào Leydig và nồng độ testosterone cao.

 

Tinh hoàn bị tổn thương
Tinh hoàn bị tổn thương
  • Hội chứng Van Wyk và Grumbach: Các hội chứng này được đặc trưng bởi suy giáp nguyên phát, u nang buồng trứng và dậy thì sớm. Các nhà nghiên cứu suy đoán rằng suy giáp nguyên phát không được điều trị dẫn đến quá kích tuyến yên và sản xuất nhiều hormone tuyến yên dẫn đến dậy thì sớm. 
Sản xuất hormone tuyến yên
Sản xuất hormone tuyến yên

3.2 Phân loại dậy thì sớm theo tốc độ tiến triển

3.2.1 Tiến triển nhanh

Phần lớn các bé gái bị dậy thì sớm, đặc biệt là trường hợp bắt đầu trước 6 tuổi. Các bé trải qua lần lượt các giai đoạn dậy thì (bao gồm cả đóng sụn tăng trưởng của xương) với tốc độ rất nhanh chóng. 

Chính vì vậy sẽ mất rất nhiều chiều cao tiềm năng mà có thể đạt được khi đến độ tuổi trưởng thành. Khoảng 1/3 những đứa trẻ này, trong tương lai, sẽ có chiều cao thấp chiều cao người trưởng thành. Nghĩa là khi trưởng thành, các bé sé có chiều cao thấp hơn so với các bạn cùng lứa tuổi.

3.2.2 Tiến triển chậm

Một số trường hợp các bé gái tuy bắt đầu dậy thì sớm (nhất là trường hợp bắt đầu sau 7 tuổi) nhưng vẫn trải qua tất cả các giai đoạn dậy thì với tốc độ trung bình. Chiều cao của trẻ sẽ phát triển sớm, trẻ cao vọt lên nhưng vẫn tiếp tục lớn đến khi xương đạt được độ trưởng thành cuối cùng vào khoảng 16 tuổi.

3.3.3 Không kéo dài

Một vài trường hợp trẻ dậy thì sớm với những thay đổi dậy thì bắt đầu nhưng rồi nhanh chóng kết thúc.

 

4. Dậy thì sơm theo góc độ Dịch tễ học  

Thực tế, có rất ít nghiên cứu mô tả xu hướng và tỷ lệ dậy thì sớm. Nghiên cứu dịch tễ học đầu tiên từ một cơ quan đăng ký quốc gia Đan Mạch ước tính rằng có khoảng 0,2% nữ giới có một số dạng dậy thì sớm (CPP, PPP hoặc các biến thể lành tính) trong khi tỷ lệ này ở nam giới là dưới 0,05%. Tỷ lệ nữ chiếm ưu thế khoảng 20 đến 23 trên 10000 trẻ em gái so với trẻ em trai, tỷ lệ này ít hơn 5 trên 10000 trẻ em trai.  

Một nghiên cứu quan sát khác ở Tây Ban Nha ước tính tỷ lệ dậy thì sớm trung tâm hàng năm là từ 0,02 đến 1,07 trường hợp trên 100000 người.  Một nghiên cứu về dân số Hàn Quốc ước tính tỷ lệ hiện mắc CPP là 55,9 trên 100000 trẻ em gái và 1,7 trên 100000 trẻ em trai. Tỷ lệ mắc CPP tổng thể được báo cáo ở Hàn Quốc là 15,3 trên 100000 trẻ em gái và 0,6 trên 100000 trẻ em trai. Tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mắc bệnh khác nhau đáng kể giữa các quần thể khác nhau, khiến việc ước tính con số chính xác trở nên khó khăn.

5. Những nguyên nhân dẫn đến dậy thì sớm

 

Hiện tượng xuất hiện dậy thì sớm của trẻ có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, chế độ dinh dưỡng và môi trường sống.

  • Giới tính: Trẻ em gái có nguy cơ dậy thì sớm hơn gấp 10 lần trẻ em trai.
  • Di truyền học: Đôi khi, đột biến gen kích hoạt giải phóng hormone sinh dục có thể dẫn đến dậy thì sớm. Thông thường, những đứa trẻ này có cha mẹ hoặc anh chị em mắc các vấn đề di truyền tương tự. 
gene di truyền ảnh hưởng đến quá trình dậy thì sớm
gene di truyền ảnh hưởng đến quá trình dậy thì sớm
  • Chủng tộc: Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các cô gái Mỹ gốc Phi dường như bắt đầu dậy thì sớm hơn khoảng một năm so với các cô gái da trắng. Tuy  nhiên các nghiên cứu này vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác. 
  • Nhận con nuôi quốc tế: Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng những đứa trẻ được nhận làm con nuôi bên ngoài nước Mỹ có nguy cơ dậy thì sớm cao gấp 10 – 20 lần. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chưa tìm được nguyên nhân chính xác.
  • Trình trạng béo phì: Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa béo phì ở trẻ em gái và tăng nguy cơ dậy thì sớm. Nhưng các nhà nghiên cứu không đưa ra kết luận chính xác nào về mối liên quan giữa béo phì và dậy thì sớm ở bé trai. Từ đó có thể kết luận rằng béo phì không liên quan đến dậy thì sớm ở các em bé trai.
dậy thì sớm ở Trẻ béo phì
dậy thì sớm ở Trẻ béo phì
  • Xuất hiện những khối u trên buồng trứng, tinh hoàn, tuyến thượng thận, tuyến yên hoặc não
  •  Hệ thần kinh trung ương bị tổn thương hoặc gặp phải một số vấn đề khác.

 

6. Phương pháp nào để chẩn đoán dậy thì sớm?

Tuổi dậy thì bình thường bắt đầu với quá trình sản xuất kisspeptin của vùng dưới đồi, kích thích sự giải phóng nhanh chóng GnRH từ vùng dưới đồi. Điều này dẫn đến sự gia tăng tần số và cường độ giải phóng gonadotropin, đặc biệt là LH. 

Để chẩn đoán dậy thì sớm, bác sĩ cần hỏi bệnh sử đầy đủ và kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng. Một số xét nghiệm cận lâm sàng bác sĩ sẽ sử dụng như: 

  • Chụp  X-quang (Tia X): Sử dụng chùm năng lượng điện từ vô hình để tạo ra hình ảnh của các mô bên trong, xương và các cơ quan trên phim. Chụp X-quang xương có thể được thực hiện để xác định tuổi xương. Kỹ thuật này thường được thực hiện sớm, vì nó có thể hữu ích trong việc phân biệt các dấu hiệu riêng biệt của tuổi dậy thì, những dấu hiệu này thường không gây ra sự tăng tuổi xương, điều này sẽ thúc đẩy sự trưởng thành của xương.
Chụp X-quang cho trẻ nhỏ kiểm tra mức độ dậy thì
Chụp X-quang cho trẻ nhỏ kiểm tra mức độ dậy thì
  • Siêu âm tuyến thượng thận và tuyến sinh dục (buồng trứng và tinh hoàn). Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh này sử dụng sóng âm tần số cao và máy tính để tạo ra hình ảnh của mạch máu, mô và cơ quan. Siêu âm được sử dụng để xem các cơ quan nội tạng khi chúng hoạt động và để đánh giá lưu lượng máu qua các mạch khác nhau.
Hình ảnh siêu âm tuyến thượng thận
Hình ảnh siêu âm tuyến thượng thận
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): Đây là một quy trình chẩn đoán sử dụng sự kết hợp của nam châm lớn, tần số vô tuyến và máy tính để tạo ra hình ảnh chi tiết về các cơ quan và cấu trúc bên trong của cơ thể.
chụp cộng hưởng từ
chụp cộng hưởng từ
  • Định lượng các chỉ số LH và FSH, đo estradiol, testosterone hoặc hormone tuyến giáp. Bác sĩ có thể tiêm cho con bạn hormone leuprolide tổng hợp trước khi đo các hormone này. Leuprolide giúp giải thích kết quả xét nghiệm của con bạn dễ dàng hơn.
chỉ số LH FSH dậy thì trẻ em
chỉ số LH FSH dậy thì trẻ em

 

  • Định lượng hormone kích thích gonadotropin (GnRH). Hormone này được sản xuất bởi vùng dưới đồi trong não, kích thích tuyến yên tiết ra gonadotropins. Do đó, kích thích sản xuất hormone sinh dục từ các tuyến sinh dục. Thử nghiệm kích thích này sẽ xác định hình thức dậy thì sớm phụ thuộc vào GnRH hoặc không phụ thuộc vào GnRH.
tong-luong-hormone-dieu-hoa
tong-luong-hormone-dieu-hoa

Dậy thì sớm cần phân biệt với các dạng dậy thì lành tính, bao gồm

  • Nốt sùi: Là sự phát triển sớm một bên hoặc hai bên của mô vú ở các bé gái trong độ tuổi từ 12 đến 24 tháng. Không có những thay đổi liên quan đến tuổi dậy thì khác. Tuổi xương, tốc độ tăng trưởng và xét nghiệm sinh hóa đều bình thường. Đây thường là một chẩn đoán loại trừ. Theo dõi lâm sàng thường xuyên để theo dõi sự phát triển và tiến triển ở tuổi dậy thì là điều bắt buộc.

  • Adrenarche sớm: Sự sản sinh sớm của nội tiết tố tuyến thượng thận là đặc trưng cho tình trạng lành tính này. Nó xuất hiện với lông mu hoặc lông nách, mùi cơ thể hoặc mụn trứng cá trước 8 tuổi. Không có sự phát triển của vú ở nữ giới và không có sự to ra của tinh hoàn ở nam giới. Tuổi xương thường không cao.
  • Menarche (kinh nguyệt) sớm: Menarche sớm là hiện tượng xuất huyết âm đạo ở các bé gái dưới 7 tuổi. Nó có thể xuất hiện với một đợt hoặc một vài chu kỳ xuất huyết (ít hơn 3 lần) và tiến triển bình thường đến tuổi dậy thì. Các nghiên cứu gần đây cho thấy điều này không ảnh hưởng đến chiều cao của người trưởng thành. Cần loại trừ trường hợp lạm dụng tình dục, có dị vật âm đạo  hoặc có nhiễm trùng âm hộ và âm đạo.
xuất huyết âm đạo tuổi dậy thì sớm
xuất huyết âm đạo tuổi dậy thì sớm

7. Điều trị dậy thì sớm như thế nào?

thăm khám y tế để điều trị dậy thì sớm
thăm khám y tế để điều trị dậy thì sớm

Mục tiêu của điều trị dậy thì sớm là ngăn chặn, và có thể đảo ngược sự khởi phát của các triệu chứng dậy thì sớm. Phương pháp điều trị dậy thì sớm cụ thể như thế nào còn phải phụ thuộc vào tình trạng cụ thể của mỗi bé và một số các đặc điểm khác, như:

  • Tuổi, sức khỏe tổng thể và tiền sử bệnh của trẻ 
  • Khả năng chịu đựng của trẻ đối với các loại thuốc, thủ thuật hoặc liệu pháp cụ thể.
  • Điều kiện gia đình và ý kiến phụ huynh.

Loại điều trị mà bác sĩ đề xuất cũng phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra dậy thì sớm của con trẻ.

  • Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ không thể tìm ra nguyên nhân. Họ có thể đề nghị quan sát con bạn trong một vài tháng.
  • Liệu pháp tương tự GnRH: Nếu con bạn thuộc nhóm dậy thì sớm trung ương và không có các bệnh lý khác, bác sĩ có thể đề nghị liệu pháp tương tự GnRH. Đây là loại thuốc mà con bạn được tiêm mỗi tháng một lần. Nó ngăn chặn sự phát triển các giai đoạn dậy thì. Con bạn sẽ dùng nó cho đến khi chúng đủ tuổi dậy thì bình thường.
  • Cấy ghép histrelin (Vantas): Con bạn sẽ phải thực hiện một phẫu thuật nhỏ. Bác sĩ sẽ đặt bộ Vantas dưới da của phần bên trong cánh tay của trẻ. Nó cũng làm chậm quá trình phát triển các giai đoạn dậy thì mà  không cần phải tiêm thuốc hàng tháng. Cấy ghép này có thời hạn trong một năm, và con bạn sẽ tiếp tục dùng cho đến khi chúng đủ  tuổi dậy thì bình thường.

8. Các nguy hại rủi rõ của việc dậy thì sớm

các nguy hại hiện tại và tương lai khi dậy thì sớm
các nguy hại hiện tại và tương lai khi dậy thì sớm

Các biến chứng mà dậy thì sớm có thể tác động đến mặt cảm xúc và thể chất của trẻ. Những vấn đề đó bao gồm:

  • Các vấn đề về hành vi: Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa dậy thì sớm và các vấn đề về hành vi, đặc biệt là đối với trẻ chậm phát triển. Nhưng một số chuyên gia khác cho rằng bằng chứng này còn chưa điển hình.
  • Hoạt động tình dục sớm: Cha mẹ có thể lo lắng về vấn đề này. Tuy nhiên, các chuyên gia chưa có bằng chứng chắc chắn nào cho thấy trẻ dậy thì sớm có nhiều khả năng hoạt động tình dục sớm hơn.
  • Tình trạng căng thẳng: Trẻ dậy thì sớm có thể bị căng thẳng và lo lắng vì cơ thể phát triển nhanh hơn trí não. Dậy thì là giai đoạn mà tâm lý của trẻ diễn biến khó hiểu nhất. Trẻ có thể cảm thấy khó xử khi trông khác với các bạn cùng lứa tuổi. Kinh nguyệt sớm có thể gây lo lắng cho các bé gái từ 9 tuổi trở xuống hoặc với các trẻ chậm phát triển. Cha mẹ nên giúp đỡ con trẻ bằng cách dạy con biết những thay đổi mà chúng nên mong đợi.
  • Ung thư vú: Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa dậy thì sớm ở bé gái và nguy cơ mắc ung thư vú tăng nhẹ trong cuộc đời sau này. Nhưng nghiên cứu này chưa chỉ ra bằng chứng rõ ràng. 
  • Vấn đề phát triển chiều cao: Những đứa trẻ dậy thì sớm thường cao hơn so với tuổi của chúng. Nhưng trong số đó, một số lại thấp hơn khi đến tuổi trưởng thành. Nguyên nhân do sau khi hết tuổi dậy thì, sự tăng trưởng sẽ ngừng lại nên dậy thì sớm sẽ kết thúc sớm hơn dậy thì bình thường. Chính vì vậy, những đứa trẻ bị dậy thì sớm sẽ ngừng phát triển ở độ tuổi trưởng thành. Kết quả có thể là chiều cao ngắn hơn so với chiều cao mà họ có thể có.
vấn đề phát triển triển cao khi dậy thị sớm
vấn đề phát triển triển cao khi dậy thị sớm

9. Lời khuyên cho cha mẹ 

Để phòng ngừa tình trạng dậy thì sớm cho trẻ, cha mẹ cần lưu ý:

  • Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với các nguồn estrogen và testosterone bên ngoài, ví dụ như thuốc theo toa cho người lớn hoặc bổ sung chế độ ăn uống có chứa estrogen hoặc testosterone
  • Tập cho trẻ duy trì cân nặng khỏe mạnh
  • Tăng cường cho trẻ vận độngcho trẻ và thay đổi chế độ dinh dưỡng hợp lý

Nếu con bạn có dấu hiệu dậy thì sớm, bạn nên đưa trẻ đến gặp bác sĩ nội tiết nhi khoa để được khám và tư vấn một cách chính xác nhất về tình trạng hiện mắc. Dưới đây là một số điều mà cha mẹ cần nhớ:

  • Bác sĩ chuyên khoa sẽ là người quyết định tình trạng dậy thì sớm hiện tại của con bạn có cần thiết phải điều trị hay không. Cha mẹ nên hợp tác để có thể làm những điều tốt nhất cho con.
  • Hầu hết trẻ em có dấu hiệu dậy thì sớm đều không tốt, về mặt y tế, tâm lý và xã hội.
  • Cha mẹ nên cung cấp cho con trẻ một lời giải thích đơn giản, trung thực về những gì đang xảy ra. Hãy cho trẻ hiểu rằng những thay đổi này là bình thường đối với trẻ lớn ở độ tuổi thanh thiếu niên, nhưng cơ thể của trẻ bắt đầu phát triển quá sớm. Cha mẹ cần báo cho trẻ về việc điều trị và những gì sẽ xảy ra trong suốt quá trình điều trị .
  • Ngoài ra, cha mẹ hãy để ý các dấu hiệu cho thấy việc trẻ bị trêu chọc hoặc các vấn đề khác có thể ảnh hưởng đến cảm xúc của con trẻ. Những dấu hiệu cảnh mà cha mẹ cần thảo luận với bác sĩ bao gồm:
  • Vấn đề mà trẻ gặp ở trường (Điểm thấp, tự ti, bị bạn bè trêu trọc…)
  • Trẻ mất hứng thú với các hoạt động hàng ngày như: Ăn uống; vui chơi, thể dục thể thao; …
  • Phiền muộn, lo âu, buồn rầu, trẻ có xu hướng thu mình, ngại chia sẻ các vấn đề với cha mẹ,… 

Cha mẹ nên lưu ý cách phản ứng mình có thể ảnh hưởng đến mức độ đối phó của trẻ. Một số phản ứng cha mẹ nên làm:

  • Hạn chế đưa ra nhận xét về ngoại hình của con trẻ
  • Tích cực khen ngợi những thành tích trong trường học hoặc thể thao mà con trẻ nhận được. 
  • Hỗ trợ, phát triển các sở thích của các con.

 

10. Tóm lược những điểm chính về dậy thì sớm

  • Dậy thì sớm có nghĩa là trẻ có các dấu hiệu trưởng thành về thể chất phát triển quá sớm. Dậy thì sớm xảy ra trước 9 tuổi ở trẻ em trai và trước 8 tuổi ở trẻ em gái.
  • Các dấu hiệu điển hình có thể bao gồm sự phát triển của vú hoặc tinh hoàn, lông mu và thay đổi giọng nói.
  • Nguyên nhân gây ra dậy thì sớm có thể do các khối u trên buồng trứng, tuyến thượng thận, tuyến yên hoặc não. Trong một số trường hợp, không thể tìm ra nguyên nhân gây rối loạn.
  • Điều trị có thể được thực hiện bằng thuốc chủ vận hormone giải phóng gonadotropin tổng hợp. Điều này có thể làm ngừng quá trình trưởng thành giới tính.
  • Dậy thì sớm có thể khiến trẻ tự ti và xấu hổ, hoặc bị các trẻ khác trêu chọc.
  • Bạn có thể giúp con mình bằng cách đối xử với chúng như bình thường, nâng cao lòng tự trọng của chúng và tìm gặp bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Dậy thì sớm có thể khắc phục được hoàn toàn.Chính vì vậy cha mẹ hãy quan tâm đến trẻ để kịp thời phát hiện những bất thường khi trẻ bắt đầu bước vào giai đoạn mới lớn. Từ đó có thể giúp trẻ duy trì tiềm năng về chiều cao khi trưởng thành. Đồng thời hạn chế những căng thẳng về tình cảm và xã hội mà trẻ có thể gặp phải khi chúng trưởng thành sớm. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

dậy thì sớm - các vấn đề sức khỏe trẻ em (dành cho cha mẹ)